Showing posts with label Ẩm thực & Sức khỏe. Show all posts
Showing posts with label Ẩm thực & Sức khỏe. Show all posts

Những món ăn tuyệt đối không nên hâm lại

Sau ngày Tết, lượng thức ăn dư thừa trong các gia đình còn khá nhiều do đó xuất hiện thói quen hâm lại đồ ăn để nóng sốt hơn. Tuy nhiên, không phải đồ ăn nào cũng có thể hâm lại, thậm chí thói quen này còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Những món ăn tuyệt đối không nên hâm lại

Thịt gà


Đây là loại thực phẩm phổ biến nhất trong dịp Tết. Trong thịt gà chứa một lượng protein khá cao nên có thể khiến bạn gặp phải các vấn đề về tiêu hóa khi bạn hâm nóng. Do đó, thịt gà không phải là một loại thực phẩm tốt để hâm nóng. Tốt nhất là bạn hãy để món gà nguội đến nhiệt độ phòng sau đó ăn tiếp nếu còn thừa.

Cơm


Theo các nhà khoa học, trong cơm nguội chứa bacillus cereus, vi khuẩn này sẽ làm bạn có các hội chứng ngộ độc như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài.

Cơm nguội dù được rang lên hay hâm lên bằng bất cứ cách gì đều đã bị biến chất và có khả năng gây ngộ độc. Vì cơm chính là tinh bột và tinh bột khi được làm nóng lên đến 60 độ C trở sẽ dần dần nở ra cuối cùng biến thành dạng bột hồ, quá trình này gọi là "hồ hóa tinh bột", tức là đã biến thành một chất khác và sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tiêu hóa.

Trứng


Trứng là một trong những loại thức ăn thừa không bao giờ được hâm nóng sau khi đã nấu chín. Trứng luộc, hấp và rán có lượng canxi, chất dinh dưỡng, vitamin và nhiều yếu tố dinh dưỡng khác nhưng khi tiếp tục bị tác động bởi nhiệt độ cao, lòng đỏ của trứng có thể biến thành chất gây hại cho cơ thể.

Cần tây


Cần tây thường được sử dụng để nấu canh, nấu lẩu hoặc xào thịt bò. Tuy nhiên loại rau này có thể sẽ trở nên độc hại nếu được hâm nóng lại bởi trong cần tây có chứa nitrat sẽ chuyển hóa thành nitrit - một chất có khả năng gây ung thư. Do vậy, nếu bạn đã nấu súp hay canh có thành phần là cần tây, bạn nên ăn hết chúng trong một bữa, nếu còn thừa, tốt nhất bạn nên loại bỏ hết cần tây trong món ăn rồi mới hâm phần còn lại.

Nấm


Theo các chuyên gia dinh dưỡng, nấm nên được ăn hết vào ngày chúng được nấu do hàm lượng protein phức tạp trong thực phẩm này. Khi nấu lại, các protein và hàm lượng dinh dưỡng trong nấm sẽ biến thành chất độc có hại cho dạ dày. Ngoài ra, đun lại nấm hơn 1 lần cũng có thể làm tổn hại đến tim mạch. Nếu không muốn bỏ phí lượng nấm đã nấu từ hôm trước, bạn nên chấp nhận ăn lạnh sau khi lấy từ trong tủ lạnh ra.

Khoai tây


Khoai tây thực sự là một loại thực phẩm lành mạnh khi luộc nguyên vỏ. Tuy nhiên, nếu bạn hâm lại khoai tây trong lò vi sóng, toàn bộ chất dinh dưỡng có ích sẽ biến mất, thay vào đó là sự xuất hiện các chất có hại cho cơ thể con người. Nếu bạn không ăn hết khoai tây trong một bữa, bạn có thể bảo quản chúng cho ngày hôm sau bằng cách làm nguội khoai tây thật nhanh rồi cất vào tủ lạnh.

Củ dền và củ cải


Hai loại củ này rất bổ dưỡng và được coi là loại rau lành mạnh nhất. Đây cũng là nguyên liệu thông thường được sử dụng để chế biến các món hầm, súp. Nếu bạn hâm nóng lại món canh, hãy đảm bảo lấy hết củ cải và củ dền ra rồi mới hâm bởi lượng nitrat cao trong nguyên liệu này có thể làm cho chúng trở nên độc hại khi tiếp xúc với nhiệt lần thứ hai.

Rau bina và xà lách mỡ


Hai loại rau xanh này không nên hâm nóng lại lần thứ hai. Chúng có chứa hàm lượng nitrat cao, vì thế khi hâm nóng lại, nitrat có thể bị phá vỡ và chuyển thành nitrit - một chất gây ung thư trong cơ thể. Nitrit ảnh hưởng đến mức độ oxy hóa trong máu, trở nên độc hại và gây ngộ độc thức ăn khi được hâm nóng.

Những người không nên ăn hành muối ?

Hành muối là một gia vị không thể thiếu trong mâm cỗ cổ truyền ngày Tết. Tuy nhiên, việc ăn hành muối ngày Tết không đúng cách sẽ tiềm ẩn nguy cơ có hại cho sức khỏe.

Những người không nên ăn hành muối ?

Người hay bị ngộ độc


Việc ăn hành muối bị ngộ độc thường có thể nguyên nhân là do dưa bị phun thuốc trừ sâu. Do đó ta có thể bị ngộ độc hóa chất trừ sâu. Ngoài ra, hành muối bị vàng, bị muối khú, hoặc muối xổi chưa chín sẽ không tốt cho sức khỏe. Do đó, nên tránh việc ngộ độc, chúng ta nên mua sạch, muối chín thì khó có thể khả năng ngộ độc.

Người bị đau dạ dày


Hành muối tạo ra độ chua, hương vị hấp dẫn cho hành. Tuy nhiên, vị chua này lại có tác dụng không tốt với người bị đau dạ dày, đặc biệt là người bị loét dạ dày. Axit có trong hành muối phát sinh từ độ chua càng làm cho vết viêm, loét nghiêm trọng hơn, đau bụng nhiều hơn.

Khi ăn hành muối, dạ dày sẽ tăng tiết dịch vị, axit nên làm niêm mạc bên trong dạ dày bị ảnh hưởng. Do đó người bị viêm loét dạ dày, đau dạ dày nên ăn rất ít hoặc tránh ăn.

Người hay bị hôi miệng


Sau khi ăn hành muối có mùi hăng nên khi ăn vào miệng sẽ làm cho miệng có mùi.

Ngoài ra, các mùi hăng của hành đi thẳng vào cơ thể. Chúng sẽ bị đào thải qua tuyến mồ hôi. Cho nên, đây cũng là nguyên nhân khiến bạn bốc mùi.

Người mắc bệnh thận


Trong quá trình muối hành, thường phải nêm nhiều gia vị, muối. Do đó, với bệnh nhân mắc bênh thận, phải tránh ăn quá nhiều.

Người béo phì


Đối với người béo phì , nếu ăn hành muối kèm với thịt mỡ sẽ rất dễ hấp thu chất dinh dưỡng, khiến cơ thể càng béo hơn.

Để đảm bảo sức khỏe tốt nhất, mọi người mỗi bữa chỉ nên ăn 5-7 củ và phải ăn hành được ngâm chín kỹ.

Vì sao không nên dùng giấy vệ sinh để lau miệng

Giấy vệ sinh là thứ không thể thiếu trong bất cứ một căn phòng vệ sinh. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn khám phá những bí mật đằng sau những cuộn giấy vệ sinh này chưa?

Vì sao không nên dùng giấy vệ sinh để lau miệng?

Vì sao không nên dùng giấy vệ sinh để lau miệng

Nhiều người giữ quan niệm hoàn toàn sai lầm khi đánh đồng giấy cuộn sử dụng trong nhà vệ sinh với giấy ăn được sản xuất riêng đều có thể thay thế cho nhau trong những lúc cần thiết. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giấy ăn và giấy vệ sinh là hai loại hoàn toàn khác nhau được sản xuất theo quy trình khác biệt nên giấy vệ sinh và giấy ăn là hai cấp độ về chất lượng. So với giấy vệ sinh dùng trong toilet, giấy ăn cần nhiều hơn yêu cầu về độ sạch sẽ. Nếu cứ vô tư sử dụng giấy vệ sinh để lau miệng như giấy ăn sẽ gây ra vô số những rắc rối cho sức khỏe người dùng.

Giấy vệ sinh không phải càng trắng càng tốt


Việc sử dụng giấy vệ sinh càng trắng không phải càng tốt cho sức khỏe. Vì giấy càng trắng có nguy cơ bị tẩy trắng trong quá trình làm càng cao và chúng có thể chứa cả huỳnh quang, thạch cao điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dùng. Bởi vậy khi lựa chọn nên chọn giấy vệ sinh có màu trắng tự nhiên.

Giấy vệ sinh cũng có thời hạn sử dụng


Hạn sử dụng trung bình của giấy vệ sinh thường là 2-3 năm, tốt nhất là bảo quản trong điều kiện phòng kho khô, thông thoáng. Loại giấy vệ sinh khi bị quá hạn sử dụng có thể dễ dàng bị nhiễm vi khuẩn bẩn, nếu phát hiện giấy vệ sinh có nấm mốc hoặc rơi mủn bột giấy thì tuyệt đối không nên tiếp tục sử dụng.

Chất phụ gia hóa học trong quá trình sản xuất giấy có thể gây ung thư, quái thai...


Trong quá trình sản xuất giấy, các chất độc policlobiphenyl (PCBs) vô tình được sản sinh ra. Để tẩy trắng nguyên liệu, nhà sản xuất phải dùng đến clo. Các phân tử chất thơm và phenol có trong quá trình này bị clo hóa đã tạo ra policlobiphenyl.

Cùng một loại giấy, loại cấu tạo nhiều lớp sẽ thấm nước tốt hơn


Nói chung, cùng một sản phẩm, loại giấy sản xuất với công nghệ nhiều lớp hơn thì sẽ có sự thấm hút nước tốt hơn, nhưng chúng là ít mềm hơn.

Dùng giấy vệ sinh rẻ tiền nguy hại cho sức khỏe


Đa số những loại giấy vệ sinh không có nhãn mác và bán với giá cực thấp trên thị trường đều là giấy tái chế. Khi sử dụng để lau các vật dụng trước khi ăn, tình cờ các bạn sẽ đem một lượng vi khuẩn xâm nhập vào hệ hô hấp, bên cạnh giấy vệ sinh tiếp xúc trực tiếp với da gây dị ứng, nổi ban đỏ nếu nhẹ.

Nặng hơn, khi sử dụng giấy này vệ sinh vùng kín, nó đem đến nguy cơ cao cho người sử dụng mắc bệnh truyền nhiễm như bệnh trĩ, bệnh lậu, viêm các bộ phận sinh dục…

Khuyến nghị khi mua giấy tránh các loại giấy bị bám bụi mùn bẩn hoặc các sợi giấy, thô ráp, độ dai của giấy kém thì không nên mua làm giấy vệ sinh.

Các chuyên gia khuyến cáo, người dùng không nên tùy tiện dùng các loại giấy vệ sinh không rõ nguồn gốc để lau chùi, kể cả đi vệ sinh. Tốt nhất nên sử dụng giấy có xuất xứ nguồn gốc rõ ràng và hạn chế sử dụng các loại giấy vệ sinh quá nhiều mùi, nhiều màu sắc hấp dẫn.

Nhận biết nước uống có an toàn không?

Uống đủ nước mỗi ngày mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tuy nhiên, tin tức về dư lượng thuốc và chất ô nhiễm trong nước đang khiến nhiều người băn khoăn về chất lượng nước sinh hoạt. Nguồn cung cấp nước (công ty cấp nước, nước giếng, nước đóng chai…) sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý và những loại ô nhiễm nào đáng quan tâm.

Nhận biết nước uống có an toàn không?

Nước máy


Nước được cung cấp từ các công ty cấp nước là loại được quản lý chặt chẽ nhất.

Tại Mỹ, Cơ quan Môi trường (EPA) sẽ quy định hàm lượng tối đa của các chất ô nhiễm, thấp hơn hàm lượng được biết là gây hại cho người.

Những điều cần lưu ý: Các chuyên gia môi trường tin rằng còn có những chỗ cần được cải thiện. Trong số 316 chất gây ô nhiễm mà nghiên cứu về nước máy của EWG 2009 tìm thấy trong nguồn cung cấp nước của Mỹ, có 202 không được quản lý, và do đó được phép có mặt với mọi hàm lượng trong nước sinh hoạt.

Các công ty cơ quan cung cấp nước sinh hoạt thường phải báo cáo chất lượng nước cho người tiêu dùng mỗi mùa xuân. Vì thế nên dành thời gian để xem lại thông báo từ nhà cung cấp của bạn.

Nước giếng


Nếu nguồn nước từ giếng khoan riêng, bạn phải chịu trách nhiệm theo dõi và kiểm tra nước. Giếng khoan nông hoặc xây dựng kém, đặc biệt là giếng khoan gần các trang trại và khu công nghiệp, dễ bị nhiễm bẩn hơn từ nước bề mặt, bao gồm thuốc trừ sâu và nước thải.

Những điều cần lưu ý: Xét nghiệm nước giếng 1-2 lần/ năm, có thể bằng cách gửi đến một phòng xét nghiệm độc lập hoặc sử dụng bộ thử nước tại nhà. Kiểm tra vi khuẩn coliform, nitrat, chất rắn hòa tan và độ pH. Sau đó, so sánh kết quả với các tiêu chuẩn nước sạch của nhà nước.

Nước đóng chai


Tại Mỹ nước đóng chai được quản lý bởi FDA, chứ không phải EPA.

EPA nghiêm ngặt hơn trong việc xét thử nghiệm, nhưng nước đóng chai gần như đạt các tiêu chuẩn như nhau. Tuy nhiên, đã có những vụ dịch do nước đóng chai và FDA Mỹ bắt đầu theo dõi các vụ dịch này. Hầu hết nước đóng chai là có uy tín, nhưng không phải lúc nào nó cũng an toàn hơn nước máy.

Những điều cần lưu ý: Nước đóng chai đắt gấp 1.000 lần nước máy, Vì vậy, việc bạn có cảm thấy nhận được giá trị gấp 1.000 lần nước máy hay không là một lựa chọn cá nhân.

Đại đa số chai nước bằng nhựa không được tái chế, đó là một yếu tố nữa để suy nghĩ. Thật tuyệt khi có chai nước để uống nước lúc đang chạy, nhưng bạn cũng có thể sử dụng bình đựng nước có thể đổ nhiều lần.

Nước qua máy lọc


Các máy lọc được mua nhiều nhất có bộ lọc carbon hoạt tính, bao gồm lõi lọc, bình đựng và hệ thống vòi nước.

Chúng thường làm giảm lượng clo, chì, đồng và một số thuốc trừ sâu và cải thiện hương vị và mùi. Khi sử dụng đúng cách, bộ lọc carbon giúp cải thiện chất lượng của hầu hết các loại nước máy.

Những điều cần lưu ý: Quan trọng nhất là phải định lỳ thay lõi lọc định kỳ, nhưng rất nhiều người không làm. Lõi lọc hấp thụ các chất dạng vi vết trong nước. Nếu không được thay theo đúng hướng dẫn, những chất này bắt đầu thôi nhiễm vào nước, có nghĩa là chất gây ô nhiễm trong nước thậm chí còn nhiều hơn so với ban đầu.

Những loại rau củ không nên nấu chín

Rau củ là thực phẩm bổ dưỡng thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, việc bạn chế biến có đúng cách hay không cũng ảnh hưởng rất nhiều đến những dưỡng chất có trong thực phẩm, và bạn cần biết rằng có nhiều loại rau củ không nên nấu chín.

Những loại rau củ không nên nấu chín

Củ cải đường


Củ cải đường sẽ mất đi khoảng 25% folate nếu chúng được nấu chín. Ăn sống thực phẩm này để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Do vậy các chuyên gia khuyên ăn củ cải đường sống để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Bạn có thể dùng củ này chế biến thành món salad ngon miệng.

Ớt


Có chứa một lượng lớn vitamin C có thể cải thiện khả năng miễn dịch, ngăn chặn hiệu quả các bệnh khác nhau. Vitamin C trong ớt đỏ dễ bị mất đi khi bạn nướng trên 375 độ C hoặc chiên. Do đó, bạn chỉ nên ăn ớt sống hoặc làm gia vị cho các món không sử dụng nhiệt.

Dưa chuột


Dưa chuột chứa vitamin C, B và các chất khoáng. Các chất dinh dưỡng có trong lớp vỏ cũng rất dồi dào. Vì vậy, bạn nên ăn dưa chuột tươi sống càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để loại bỏ thuốc trừ sâu từ thức ăn. Tốt nhất bạn nên nhúng cà chua trong nước muối từ 15 đến 20 phút và sau đó rửa bằng nước sạch.

Rau cần tây


Rau cầu tây giàu chất xơ, kali, vitamin B2, tốt cho hệ tiêu hóa, giúp ngăn ngừa mệt mỏi và loét miệng. Cần tây nên ăn sống hoặc làm gỏi, trộn salad, tránh nấu chín bằng nhiệt vì sẽ làm bay hơi các chất dinh dưỡng.

Súp lơ


Nhiều người có thói quen chế biến bông cải xanh thành những món xào, tuy nhiên khi nấu chín chúng thì sẽ khiến cho myrosinase biến mất, đây là một loại enzyme có trong bông cải xanh và chúng có tác dụng làm sạch những chất ung thư có trong gan, vì thế nên không nên nấu chín đối với loại thực phẩm này.

Hành tây


Hành tây thường khiến chúng ta cay mắt khi cắt chúng lúc còn sống. Nhưng đừng vì như vậy mà ghét bỏ chúng nhé. Khi bạn ăn sống hành tây, những hợp chất có trong chúng như chất chống oxy hóa, lưu huỳnh giúp cơ thể chống lại các bệnh ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt đấy.

Khi nấu chín hành tây, những chất này sẽ giảm dần hoặc mất đi và không có tác dụng gì nữa khi chúng ta ăn vào. Tốt nhất chỉ nên làm hành tây với những món không cần chế biến ở nhiệt độ cao.

Cà tím


Cà tím là loại quả dồi dào selenium. Loại cà này chống lại quá trình oxy hóa, duy trì hoạt động bình thường của các tế bào nội bộ, nâng cao khả năng miễn dịch và giúp cơ thể kháng nhiều bệnh khác nhau. Nhiều người bất ngờ khi loại quả này được khuyên dùng để ăn sống hoặc không nên xào nấu kỹ. Thật vậy, nếu nấu chín cà tím sẽ bị giảm đáng kể lượng chất dinh dưỡng chứa trong nó.

Cà chua


Lượng vitamin A dồi dào trong cà chua có tác dụng tốt đến thị lực và làn da con người. Cà chua được khuyên dùng nên ăn sống và tránh ăn quả xanh. Khi ăn cà chua lạnh, không nên thêm đường vì vị ngọt có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn, món này cũng không tốt cho các bệnh nhân tiểu đường, béo phì và huyết áp cao.

Ngoài ra, dùng cà chua làm các món rau trộn có nước sốt nên ăn ngay sau khi được chế biến, nếu để lâu các vitamin chứa trong nó có thể bị phá hủy.

Thực phẩm đóng hộp an toàn đến đâu?

Trong những ngày tết, lượng tiêu thụ thực phẩm đóng hộp tăng lên rõ rệt. Thực phẩm đóng hộp là cách đơn giản để chúng ta dự trữ các loại nông sản và thịt cá. Cà chua, đậu, bí ngô, cá ngừ và cá hồi đóng hộp là những món ăn rất lành mạnh, và chúng cực kỳ thuận tiện vì có thời hạn sử dụng lâu dài.

Hơn nữa, mặc dù có vẻ như thực phẩm đóng hộp có ít chất dinh dưỡng hơn so với thực phẩm tươi sống, nhưng quá trình đóng hộp không ảnh hưởng đến hàm lượng protein, carbohydrate và chất béo, hoặc lượng khoáng chất và vitamin tan trong dầu (như vitamin A, D , E và K). Nhưng vì việc đóng hộp liên quan đến nhiệt độ cao, một số vitamin tan trong nước (như C và B) có thể bị hao hụt - mặc dù lượng mất đi là khác nhau giữa các loại thực phẩm.

Thực phẩm đóng hộp an toàn đến đâu

BPA - hóa chất bắt chước estrogen


Tuy nhiên, có một số nguy cơ đi kèm với việc tiêu thụ thực phẩm đóng hộp. Mối lo ngại hàng đầu của các chuyên gia chính là hộp đựng thực phẩm. Nhiều hộp đựng có chứa BPA, một chất có thể ảnh hưởng đến hoóc môn và làm tăng huyết áp, nguy cơ ung thư và dẫn đến các vấn đề hành vi.

Là một hóa chất bắt chước estrogen, BPA đã được sử dụng từ những năm 1960 trong lớp tráng vỏ hộp thực phẩm để giữ kim loại khỏi han gỉ. Vấn đề là chất này thôi nhiễm vào thực phẩm và đồ uống. Mặc dù tác động đầy đủ của BPA vẫn còn chưa rõ và hầu hết các nghiên cứu được thực hiện trên động vật, nhiều bác sĩ và các nhà khoa học lo ngại rằng nó có thể thay đổi hoạt động của các hoóc-môn giới tính estrogen và testosterone trong cơ thể, có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản và não.

Thực sự có bằng chứng là BPA có thể can thiệp vào não và các hệ thống nội tiết tố. Một nghiên cứu năm 2016 trên tạp chí Clinical Endocrinology cho thấy BPA có thể liên quan đến kháng insulin và béo phì ở phụ nữ. Một nghiên cứu năm 2017 ở chuột thấy rằng phơi nhiễm BPA ở mức thấp trong thai kỳ có thể làm thay đổi cách cơ thể xử lý các tín hiệu từ hoóc-môn đói , gây rối loạn khả năng hiểu tín hiệu đói và no của não. Các nghiên cứu khác thậm chí còn liên hệ mức độ phơi nhiễm cao với ung thư vú và các rối loạn chuyển hóa như hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS).

Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất là về phơi nhiễm BPA trong thai kỳ. Ở người, phơi nhiễm BPA khi bào thai đang phát triển có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về hành vi (như tăng động và hung hăng), phát triển ngực muộn ở tuổi dậy thì, béo phì, tiểu đường, bệnh tim và thay đổi chức năng gan.

Theo Viện Khoa học Sức khỏe Môi trường (NIEHS), mặc dù BPA hiện diện ở nhiều nơi, bao gồm chất trám răng, dụng cụ y tế, đồ điện tử tiêu dùng và hóa đơn tính tiền, nguồn phơi nhiễm chính của chúng ta là thực phẩm. Nghiên cứu của trường Johns Hopkins năm 2016 thấy rằng những người chỉ ăn một món thực phẩm đóng hộp một ngày có tăng 24% nồng độ BPA trong nước tiểu so với không ăn thực phẩm đóng hộp; ăn từ hai hộp trở lên làm nồng độ BPA tăng thêm 54%.

Hướng dẫn mới nhất của FDA về BPA, xuất bản năm 2008, đặt giới hạn trần của phơi nhiễm hàng ngày là 50mcg BPA/kg cân nặng cơ thể. Nhưng nhiều chuyên gia nói rằng khuyến nghị đã lỗi thời và cần hạ thấp hơn nhiều. Theo báo cáo từ EPA, một số nghiên cứu trên động vật cho thấy liều dưới 1 mg và thấp chừng 2mcg/kg cân nặng/ngày là đã có thể có những tác động tiêu cực.

FDA cho biết vẫn đang nghiên cứu những nguy cơ cơ và độ an toàn của BPA kể từ khi cấm sử dụng BPA trong bình sữa, cốc uống nước và sữa công thức. Tuy nhiên, vào năm 2014, FDA công bố một tổng kết hơn 300 nghiên cứu kết luận rằng không cần có thay đổi nào đối với các khuyến nghị hiện tại. Nhiều nhóm hoạt động môi trường đang kêu gọi FDA qui đinh giới hạn phơi nhiễm an toàn không quá 1 ppb.

Hiện tại, BPA vẫn phổ biến trong thực phẩm đóng hộp. Báo cáo năm 2016 cho thấy 2/3 số hộp đựng thực phẩm ở Mỹ chứa BPA, và chất này được phát hiện thấy trong nước tiểu của hơn 90% người Mỹ, theo một báo cáo của CDC.

Theo lý thuyết, luôn có thể dễ dàng tránh được tất cả BPA - nhưng không may là điều này gần như không thể thực hiện được trên thực tế. Lời khuyên chung của các chuyên gia đối với các gia đình là mua trái cây tươi và rau quả đông lạnh nếu có thể. Tránh thức ăn đóng hộp và chế biến sẵn. Nghiên cứu cho thấy có thể giảm mức BPA trong cơ thể bằng cách chọn thực phẩm tươi, không chế biến thay cho thực phẩm đóng hộp. Hãy nhớ rằng lượng BPA mà bạn đang phơi nhiễm cũng khác nhau khá nhiều tùy thuộc vào thực phẩm. Năm 2009, Consumer Reports đã thử nghiệm 19 thương hiệu thực phẩm bao gồm súp, nước trái cây, cá ngừ và rau để xác định mức BPA. Những loại tệ nhất là đậu xanh và súp đóng hộp.

Lượng muối cao


Ngoài các nguy cơ tiềm ẩn của BPA, Nhiều thực phẩm đóng hộp cũng có hàm lượng muối cao. Ăn nhiều muối tất nhiên sẽ đi kèm với những tác dụng phụ là chơpngs bụng và giữ nước (mặc dù mối liên quan của nó với huyết áp cao và các hậu quả sức khỏe đáng sợ khác vẫn còn đang tranh cãi). Vì vậy, hãy đọc nhãn dinh dưỡng, so sánh các thương hiệu và chọn không có hoặc có ít muối nếu có thể.

Nếu không có loại ít muối, nhiều chuyên gia dinh dưỡng khuyên nên giữ lượng muối là 500mg cho mỗi phần ăn và rửa các thực phẩm đóng hộp như đậu, có thể giảm 405 muối. Và vì cá ngừ chứa một ít thuỷ ngân, nên FDA khuyên nên ăn tối đa ba phần ăn cá ngừ đóng hộp hoặc một phần ăn cá albacore đóng hộp.

Nhưng mặc dù có những nhược điểm của thực phẩm đóng hộp, song đây vẫn là một cách dễ dàng, rẻ tiền để nhận được lượng rau xanh. Tất nhiên là bạn không nên ăn toàn thực phẩm đóng hộp. Nhưng vẫn tốt nếu nó giúp bạn nhận được nhiều hơn những thực phẩm lành mạnh hơn như đậu và rau, đặc biệt là vì ít người trong chúng ta đang ăn đủ các loại thực phẩm này ngay từ đầu.

Nếu bạn thực sự lo ngại về BPA, hãy tìm các loại hộp không chứa BPA nếu có thể, hoặc tránh hoàn toàn thực phẩm đóng hộp. (Thậm chí hộp không BPA cũng vẫn thôi nhiễm lượng BPA thấp vào thực phẩm, nhưng ít hơn nhiều so với các lựa chọn khác - từ 20 ppb trong cá ngừ đến 1 ppb trong đậu rang). Hãy kiểm tra nhãn để xem bao bì đựng thực phẩm có chứa BPA hay không.

Những xu hướng ẩm thực hot trong năm 2018

Dưới đây là những xu hướng ăn uống mà bạn có thể cân nhắc đưa vào quyết tâm trong năm mới của mình. Tuy nhiên cũng đừng quá ám ảnh vì chúng.

Những xu hướng ẩm thực sẽ hot trong năm 2018

Gia vị chữa bệnh


Các loại gia vị đang bùng nổ ở khắp mọi nơi, và bạn có thể tìm thấy đủ mọi thứ mang hương nghệ. Giờ đây, các cư dân mạng đang phát cuồng về sữa vàng, một đồ uống đầy gia vị đã được được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Ấn Độ.

Tuy nhiên, trong khi những loại bột này có thể thay thế cho muối và tăng hương vị, chưa có bằng chứng khoa học nào ủng hộ việc sử dụng chúng như một phương thuốc chữa bệnh.

Chế độ ăn FODMAP thấp


Được gọi là chế ăn "không gluten" mới. Những người bị IBS đang tìm thấy thành công với chế độ ăn FODMAP thấp, và giờ đây những người ăn uống theo các xu hướng khác cũng đang tìm đến chế độ ăn này.

Những chữ viết tắt dùng để chỉ một loại carbonhydrat được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm có thể gây khó tiêu. Những người theo chế độ ăn này thường kiêng các sản phẩm từ sữa, cồn ngọt, và đậu đỗ (một vài loại) thay cho việc ăn không lactose và fructose.

Mặc dù chế độ ăn này có thể dễ chịu cho dạ dày, hãy thận trọng với mọi sản phẩm có ghi "FODMAP thấp" vì chúng vẫn có thể chứa nhiều chất béo bão hòa và phụ gia đường.

Những “siêu thực phẩm” mới


Trong khi những thực phẩm đang thịnh hành này là tin cũ ở nhiều nơi trên thế giới, của sắn (khoai mì), mít và quả La hán đang ngày càng trở nên phổ biến như một sự hoán đổi cho bột mì, thịt và đường. Hãy thử nướng với sắn (nhưng đừng bỏ qua các loại ngũ cốc nguyên hạt khác) hoặc sử dụng mít trong món taco chay.

Than hoạt


Từng bị coi là bụi bẩn, than hoạt và đất sét đã được cải tiến thành những đồ uống “thải độc” trên Instagram. Nhưng hãy cẩn thận: Những thành phần này thực sự có thể gây ra hậu quả táo bón không mấy dễ chịu.

Nhịn ăn không liên tục


Tuy bạn ít khi gặp kiểu ăn kiêng “điên rồ” với chỉ một loại thực phẩm duy nhất, nhưng điều đó không có nghĩa là những mốt ăn kiêng mất cân đối sẽ biến mất mãi mãi. Cũng giống như chế độ ăn kiêng ketogenic từng làm mưa làm gió một thời, kiểu ăn kiêng hạn chế này có thể gây hại nhiều hơn lợi.

Nhịn ăn sẽ không chỉ làm cho bạn bị đói mà còn có thể dẫn đến buồn nôn và mất nước. Về lâu dài, nhịn ăn cũng có thể làm giảm sự trao đổi chất, gây tăng cân.

Thực phẩm gây ngủ


Khi 30% người Mỹ báo cáo bị mất ngủ ngắn hoặc dài ngày, không có gì ngạc nhiên khi hàng loạt sản phẩm gây ngủ đang tấn công thị trường. Tuy nhiên, đừng bắt đầu uống hoặc bôi kem dưỡng ngủ để mong có giấc ngủ ngon tức thì. Hiệu quả của chúng còn thiếu các bằng chứng khoa học. Nghĩa là nghiên cứu vẫn ủng hộ những thực phẩm không quá mới mẻ, chẳng hạn như quả anh đào khô, hạt dẻ cười hoặc ngũ cốc nguyên hạt và sữa.

Ẩm thực côn trùng


Côn trùng là một nguồn protein rẻ tiền và bền vững, vì vậy đừng ngạc nhiên khi tìm thấy món dế trong thực đơn của các nhà hàng sang trọng. Nếu quan tâm đến xu hướng này, bạn chỉ cần biết rằng thực phẩm có nguồn gốc từ côn trùng vẫn có thể được chế biến rất kỹ, vì vậy hãy nhớ ăn những thứ khác nữa ngoài món côn trùng chiên giòn.

Bơ đậu phộng


Sau khi phải chịu những lời gièm pha trong suốt nhiều năm, bơ đậu phộng đang quay trở lại và chúng ta không thể vui mừng hơn về điều này. Hãy tìm kiếm bơ đậu phộng ở những hình thức mới, giống như món ăn vặt phổ biến của Israel là bamba. Trước khi chìm đắm vào những món ăn hấp dẫn này, hãy nhớ để ý đến đường phụ gia, muối, chất béo bão hòa và các thành phần không cần thiết khác.

Thực phẩm làm đẹp


Uống collagen? Đó là những gì mà một số loại thuốc bổ, bột và cồn thuốc đag đề nghị. Trong khi một số người của công chúng có thể có thể cam đoan với vạn, thì đừng nghĩ việc uống bột maca sẽ biến bạn thành Jennifer Aniston. Chỉ có những bằng chứng “ngụy khoa học” ủng hộ tác dụng trẻ hóa của chúng.

Probiotic mọi thứ


Sữa chua và thực phẩm lên men (như dưa bắp cải và kim chi) đã thu hút rất nhiều sự chú ý do cung cấp những lợi khuẩn sống cho ruột, nhưng probiotic còn bùng nổ ở nhiều nơi khác. Bây giờ bạn có thể tìm thấy lợi khuẩn trong khoai tây chiên, bánh quy và granola, nhưng cũng giống như thực phẩm từ côn trùng, hãy chắc chắn rằng bạn có đọc những thành phần khác trước khi thêm vào giỏ hàng.

Thực phẩm chứa caffeine


Các nghiên cứu gần đây ủng hộ việc tiêu thụ từ 300 đến 400mg caffeine (khoảng ba hoặc bốn cốc cà phê mỗi ngày) vì lợi ích của não. Nhưng matcha không phải là nguồn duy nhấ. Hãy chuyển sang uống nước hoặc nước khoáng có chứa caffein, nhưng bỏ qua các viên cà phê hoặc đồ uống chứa đường nếu bạn muốn tăng cường sức khoẻ.

Kem ít calo


Ben & Jerry đã chính thức tung ra loại kem "ăn kiêng" chứa chưa đến 300 calo mỗi pint (khoảng nửa lít). Halo Top giờ đây phổ biến hơn Häagen-Dazs sau khi doanh thu tăng 2.500%. Các thương hiệu khác như Breyer hiện rất được ưa chuộng với hương vị riêng của mình.

Thiết bị cấp phòng thí nghiệm


Các thiết bị công nghệ cao từng được dành riêng cho giới chuyên môn sẽ nhanh chóng trở nên phổ biến. Một trong những thiết bị này là máy quang phổ, sử dụng ánh sáng để phát hiện xem sản phẩm có gluten hay không hoặc trái cây đã chín chưa.

Ít soda hơn


Nước có ga không hoàn toàn biến mất, nhưng người Mỹ cuối cùng cũng uống ít cola hơn. Một khảo sát gần đây cho thấy số người trưởng thành và số trẻ em uống các loại nước ngọt như soda hoặc nước trái cây đã giảm tương ứng là 24% và 195 so với cùng kỳ năm 2003. Thay vào đó, họ thường uống gì? Nước.

Đậu đỗ


Xu hướng tăng ăn đậu đỗ - hạt ăn được của cây họ đậu - không có dấu hiệu chững lại. Bạn có thể cổ vũ cho các loại cây trồng bền vững và có lợi cho sức khoẻ này ở dạng truyền thống của chúng (ví dụ: đậu gà, đậu lăng và đậu Hà Lan sấy khô) hoặc thử các món ăn nhẹ từ đỗ, như Beanitos.

Thịt gà trắng hay thịt gà nâu tốt hơn

Có những người thích thịt gà trắng và có những người chỉ ăn thịt nâu. Câu hỏi đặt ra là hai loại thịt này khác nhau như thế nào và phải chăng thịt trắng tốt cho sức khỏe hơn thịt nâu?

Thịt gà trắng hay thịt gà nâu tốt hơn

Theo Health, sự khác biệt cơ bản giữa thịt trắng và thịt nâu phụ thuộc vào myoglobin, loại protein gắn kết và vận chuyển oxy trong mô cơ. Nồng độ myoglobin càng cao, màu thịt càng đậm. Do hoạt động đi, chạy, phần chân và đùi của gà cần nhiều oxy hơn, tức là có nhiều myoglobin hơn nên sậm màu hơn. Ngược lại, phần ức và cánh sẽ có màu sáng.

Về mặt dinh dưỡng, thịt nâu chứa nhiều calo và chất béo hơn thịt trắng. Một phần đùi gà nướng chứa 8,6 g chất béo bao gồm 2,7 g chất béo bão hòa. Một phần ức gà nướng với trọng lượng tương đương chứa 4 g chất béo bao gồm 1,1 g chất béo bão hòa. Tuy nhiên, ở cả thịt trắng lẫn thịt nâu, loại chất béo chủ yếu vẫn là chất béo không bão hòa đơn tốt cho sức khỏe.

Tương tự thịt trắng, thịt nâu rất giàu vitamin cùng khoáng chất. Đó là nguồn vitamin B6, kẽm, niacin, selenium, phosphorus, sắt, riboflavin, pantothenic acid tuyệt vời; hỗ trợ cơ thể tổng hợp và chuyển hóa protein, carbs, chất béo. Trên thực tế, một phần đùi gà nướng không da chứa lượng sắt ngang với một phần ức gà nướng không da (1,1 g). So với sắt thực vật, cơ thể dễ hấp thụ sắt từ thịt nâu hơn. 

Cuối cùng, thịt nâu có mùi vị đậm đà, mọng nước còn thịt trắng rất dễ bị khô khi nấu nướng. Chất béo trong thịt nâu cũng giúp thỏa mãn dạ dày đồng thời kéo dài cảm giác no bụng.

Bạn không cần từ bỏ thịt nâu để chuyển sang thịt trắng mà cứ ăn điều độ mỗi tuần vài lần. Nếu muốn tối đa hóa lợi ích dinh dưỡng, bạn có thể nấu gà với các loại rau củ quả như nấm hoặc dùng cả thịt nâu lẫn thịt trắng để nấu súp. 

Trường hợp mắc bệnh tim mạch, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về việc ăn thịt gà

Ăn thế nào để đủ lượng rau và trái cây mỗi ngày?

Ai cũng biết về những lợi ích của rau và trái cây đối với sức khỏe, nhưng rất nhiều người không biết phải ăn như thế nào để đảm bảo đủ lượng tối thiếu mỗi ngày.

Ăn thế nào để đủ lượng rau và trái cây mỗi ngày?

Tại sao chúng ta cần ăn trái cây và rau


Trái cây và rau chứa đầy các chất chống oxy hoá và chất dinh dưỡng thiết yếu để bổ sung và nuôi dưỡng tế bào của chúng ta.

Tất cả các chuyên gia đều nhất trí rằng trái cây và rau có những tác dụng sau:

• Giảm huyết áp

• Bảo vệ mắt

• Duy trì hệ thống miễn dịch khỏe mạnh

• Chống tăng cân

• Chống bệnh não

• Tăng cường sức khoẻ tinh thần

• Giảm nguy cơ hầu hết các bệnh (bao gồm ung thư và tiểu đường)

Tại sao?


Thứ nhất, chúng chứa một số chất dinh dưỡng không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác như chất xơ giúp hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh và các phytochemicals đặc trưng cho thực phẩm từ thực vật.

Một trong những tác dụng có giá trị nhất của những chất dinh dưỡng này là làm giảm viêm trong ruột, động mạch, các cơ quan nội tạng và não.

Ngược lại, thịt chế biến sẵn, đường, chất béo chưa bão hòa và carbonhydrate kích hoạt dòng thác hoóc-môn, giống như ma túy, khiến đường huyết tăng vọt và tăng viêm.

Viêm làm tắc nghẽn các động mạch, gây thêm gánh nặng cho tim, có thể dẫn đến bệnh tim hoặc đau tim.

Động mạch tắc nghẽn cũng làm hạn chế hiệu quả bơm ô xi của tim và đẩy máu đi khắp cơ thể, ảnh hưởng đến thể lực và sức khoẻ tinh thần của bạn.

Viêm trong ruột có thể làm chậm quá trình chuyển hóa, dẫn đến nguy cơ cao về bệnh chuyển hóa và tăng cân.

Kết quả chụp não của bệnh nhân sa sút trí tuệ cho thấy mưc độ viêm trên mức trung bình trong não. Điều này đã khiến các nhà nghiên cứu hàng đầu gợi ý rằng chế độ ăn nhiều rau và trái cấy, ít đồ ăn nhanh, có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh não. Ủng hộ quan điểm này, dự án Blue Zones đã tìm ra bằng chứng cho thấy những cộng đồng ăn nhiều trái cây và rau, tránh xa chế độ ăn kiểu phương Tây, có nguy cơ mắc bệnh não thấp hơn.

Lượng rau và trái cây tối thiểu mỗi ngày


Tối thiểu mỗi ngày bạn cần ăn khoảng hai miếng trái cây.

Dưới đây là một số ví dụ về ngưỡng tối thiếu:

Buổi sáng: Một quả cam | Buổi chiều: một quả táo nhỏ

Một quả cam chứa:

• 3g chất xơ ăn được

• 130% lượng vitamin C khuyến nghị hằng ngày

• 7% lượng kali khuyến nghị hằng ngày

• 2% lượng vitamin A khuyến nghị hằng ngày

• 1g protein

• 80 calo

Một quả táo chứa:

• 4g chất xơ

• 14% lượng vitamin C khuyến nghị hằng ngày

• 6% lượng kali khuyến nghị hằng ngày

• 5% lượng vitamin K khuyến nghị hằng ngày

• 4% lượng vitamin B6 khuyến nghị hằng ngày

• 95 calo

Buổi sáng: Một quả chuối | Buổi chiều: 7 quả dâu tây

1 quả chuối chứa:

• 3g chất xơ (tốt cho tiêu hóa)

• 1g protein (tốt cho cơ)

• 25% lượng vitamin B6 khuyến nghị hằng ngày (tốt cho thần kinh)

• 13% lượng kali khuyến nghị hằng ngày (tốt cho huyết áp)

• 16% lượng mangan khuyến nghị hằng ngày (tốt cho xương)

• 110 calo

7 quả dâu tây chứa:

• 2g chất xơ (tốt cho tiêu hóa)

• 1g of protein (tốt cho cơ)

• 2% lượng sắt khuyến nghị hằng ngày (chống viêm)

• 1% lượng can-xi khuyến nghị hằng ngày (tốt cho xương)

• 149% lượng vitamin C khuyến nghị hằng ngày (tốt cho hệ miễn dịch)

• 24 calo

Buổi sáng: 12 quả nho | Buổi chiều: Một quả lê nhỏ

12 quả nho chứa:

• 0,6g protein (tốt cho cơ)

• 0,8g chất xơ (tốt cho tiêu hóa)

• 17% lượng vitamin K khuyến nghị hằng ngày (tốt cho máu)

• 6% lượng vitamin C khuyến nghị hằng ngày (tốt cho hệ miễn dịch)

• 5% lượng vitamin B6 khuyến nghị hằng ngày (cung cấp năng lượng và đẹp da)

• 5% lượng kali khuyến nghị hằng ngày (tốt cho tim)

• 62 calo

Một quả lê chứa:

• 1,9g protein (tốt cho cơ)

• 4,6g chất xơ (tốt cho tiêu hóa)

• 8% lượng K khuyến nghị hằng ngày (tốt cho máu)

• 10% lượng vitamin C khuyến nghị hằng ngày (tốt cho hệ miễn dịch)

• 2% lượng vitamin B6 khuyến nghị hằng ngày (cung cấp năng lượng và đẹp da)

• 5% lượng kali khuyến nghị hằng ngày (tốt cho tim)

• 62 calo

8 Nhầm lẫn về đường thường gặp

Đường gây sâu răng, ăn càng nhiều đường càng dễ mắc tiểu đường. Liệu những quan niệm này có chính xác. Dưới đây là những nhầm tưởng “hoang đường” về sử dụng đường trong đời sống hàng ngày.

8 Nhầm lẫn về đường thường gặp

Nhầm lẫn 1: Một số loại đường tốt hơn loại đường khác

Thực tế: Tất cả các loại đường đều có tác động tương tự như nhau lên cơ thể của chúng ta.

Theo TS. Jennifer Haythe, bác sỹ tim mạch bệnh viện Columbia Presbyterian ở New York, “Ý kiến cho rằng có nhiều loại đường khác nhau, nhưng đó là suy nghĩ sai lầm. Đường nâu, đường trắng, hay mật ong…cuối cùng chúng đều được phân tích thành một thứ giống nhau gọi là glucose. Tất cả các dạng đường là carbohydrates có thể được sử dụng như glucose”.

Nhầm lẫn 2: Đường làm cho trẻ em tăng động hơn

Thực tế: Không có mối liên hệ nào giữa đường và hành vi của trẻ

“Ý kiến cho rằng đường khiến cho trẻ hiếu động thái quá là một trong những nhầm lẫn buồn cười nhất về đường”, TS. Haythe nói.

Nhiều nghiên cứu khoa học trong nhiều năm qua đã xác định rằng, thực tế không có mối liên kết trực tiếp nào giữa ăn đường và tăng động. Bài báo nghiên cứu cuối cùng được công bố bởi TS. Mark Wolraich, Trưởng Khoa nhi về sự phát triển và hành vi của trẻ tại Trung tâm Khoa học Y tế trường ĐH Oklahom kết luận rằng “đường không ảnh hưởng đến hành vi của trẻ em”.

Nhầm lẫn 3: Đường là chất gây nghiện như chất ma tuý cực mạnh

Thực tế: Không có bằng chứng kết luận đường là chất gây nghiện

Tiến sĩ Haythe cho biết, “Không có bằng chứng nào cho thấy đường là “một loại ma túy cửa ngõ” (gateway drug, còn được dịch là ma túy trung gian) và là chất gây nghiện”.

Có nhiều nghiên cứu mâu thuẫn liên quan đến chủ đề nghiện đường. Một nghiên cứu của Pháp được công bố vào năm 2013 liên kết sự thèm muốn đồ ngọt với “trung khu tưởng thưởng (reward center)” của não bộ mà gây ra bởi thuốc gây nghiện. Nghiên cứu kết luận rằng đường thậm chí gây nghiện hơn cocain.

Tuy nhiên, các bác sĩ và nhà nghiên cứu khác lại cho rằng kết quả của nghiên cứu chỉ ra chúng ta chỉ nhìn thấy hành vi như nghiện ở động vật gặm nhấm khi các động vật bị hạn chế ăn đường trong một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày. Khi các đối tượng thử nghiệm được phép ăn đường bất cứ khi nào chúng muốn - như con người - các đặc điểm nghiện đường biến mất.

Nhầm lẫn 4: Ăn quá nhiều đường gây ra bệnh tiểu đường

Thực tế: Cả hai loại bệnh tiểu đường là do sự kết hợp của di truyền học và các yếu tố môi trường, nhưng một chế độ ăn uống ngọt, có đường không thể trực tiếp gây ra tiểu đường.

Cũng theo TS. Haythe “Ăn đường không gây ra bệnh tiểu đường, đó là một vấn đề phức tạp liên quan đến tuyến tụy và sự trao đổi chất của cơ thể. Khi mắc bệnh tiểu đường, hệ thống cơ thể không sản xuất đủ insulin. Insulin giúp glucose hấp thụ vào máu và gan để trở thành năng lượng hữu ích”.

Theo Viện nghiên cứu quốc gia về bệnh tiểu đường và các bệnh đường tiêu hóa, bệnh thận Mỹ (NIDDK), có nhiều khả năng bị tiểu đường nếu bị thừa cân hay béo phì, bởi vì chất béo dư thừa có thể dẫn đến sự kháng insulin. Điều này khiến cho chế độ ăn nhiều đường là cách gián tiếp chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh tiểu đường tuýp 2.

Nhầm lẫn 5: Chất ngọt nhân tạo tốt hơn đường

Thực tế: Tương tự như đường, các chất ngọt nhân tạo cũng không hẳn là có lợi cho sức khoẻ

Mặc dù các chất làm ngọt nhân tạo như Stevia, Truvia, và aspartame (có trong soda ăn kiêng) có ít calo hơn so với các chất có đường, nhưng nghiên cứu cho thấy những người uống soda ăn kiêng có nguy cơ béo phì gấp đôi so với những người không uống.

Một nghiên cứu đăng trên Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ cho thấy sacarin - chất làm ngọt nhân tạo – có tính gây nghiện nhiều hơn cocain. Một nghiên cứu khác của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ cho thấy rằng những người uống soda ăn kiêng có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn 67% so với những người uống soda bình thường.

Nhầm lẫn 6: Đường gây sâu răng

Thực tế: Sâu răng thực sự là do thực phẩm và đồ uống có tính axit làm mòn men răng của chúng ta

Tiến sĩ Mark Burhenne của trang AsktheDentist.com nói rằng “Đường không phải là nguyên nhân gây ra sâu răng, nguyên nhân là do axit. Các loại thực phẩm gây sâu răng hàng đầu là bánh quy giòn và bánh mì, không phải bánh kẹo. Khi chúng ta ăn một cái gì đó với đường, các vi khuẩn cư trú tự nhiên trong miệng cũng hấp thụ đường này. Chất thải của vi khuẩn là axit, vì vậy sau khi ăn, chúng thải ra axit.... Axit làm mất canxi hoặc khử chất khoáng men răng bằng cách làm hỏng cấu trúc men răng gây ra tình trạng sâu”.

Nhầm lẫn 7: Nên loại bỏ hết đường trong chế độ ăn uống

Thực tế: Con người cần glucose để tồn tại

Tất nhiên, hấp thụ quá nhiều đường sẽ dẫn đến những vấn đề chúng ta nói ở trên như tăng cân và các vấn đề về sức khoẻ lâu dài. Tuy nhiên, glucose rất quan trọng đối với cơ thể chúng ta. Ý kiến cho rằng đường không tốt cho chúng ta là sai lầm. Tất cả chúng ta đều cần đường, chúng ta cần nó để vận hành cơ thể và tồn tại.

Nhưng quan điểm này còn gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng y tế. Một bài báo nghiên cứu năm 2005 của Tiến sĩ Robert Lustig - người nổi tiếng đã dành cả cuộc đời để chống lại sai lầm “chất béo là tội ác" - đã kết luận từ một loạt nghiên cứu rằng “đường độc hại” ở bất kỳ hình thức nào, không quan tâm đến calo hay trọng lượng.

Cho dù thế nào, loại bỏ tất cả đường khỏi chế độ ăn uống sẽ gần như không thể. Trái cây, khoai tây và các thực phẩm tinh bột khác đều có chỉ số glycemic cao. Nếu muốn giảm hấp thụ đường thì phải loại trừ tất cả những thực phẩm đó.

Nhầm lẫn 8: Đường là nguyên căn của các vấn đề về sức khoẻ

Thực tế: Đường hiếm khi là nguyên nhân duy nhất gây béo phí và bệnh tim

Không nghi ngờ gì khi đường là một yếu tố góp phần gây béo phì. Nhưng nó không phải là điều duy nhất cần xem xét khi chúng ta cố gắng có lối sống lành mạnh.

Tiến sĩ Haythe cho biết “Thực phẩm ngọt, có đường có rất nhiều calo, và thường được chế biến, xử lý rất nhiều. Đơn giản là nếu bạn ăn quá nhiều calo, bạn sẽ tăng cân và có hại cho sức khoẻ”.

Trẻ nhỏ nên ăn bao nhiêu trứng là đủ

Trứng là thực phẩm rất tốt nhưng cũng không nên ăn quá nhiều bởi hàm lượng chất béo cao làm trẻ dễ bị đầy bụng, khó tiêu.

Trứng là thực phẩm cung cấp nhiều chất đạm có giá trị sinh học cao, dễ hấp thu, tương đương với đạm trong sữa nếu biết cách chế biến đúng. Ngoài ra lòng đỏ trứng cung cấp nhiều chất béo, các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ như sắt, viatmin A, kẽm… 

Giá trị dinh dưỡng của trứng gà và vịt không khác nhau nhiều, nhưng xét về thành phần vi chất dinh dưỡng thì trứng gà tốt hơn trứng vịt. Hàm lượng kẽm, vitamin A của trứng gà cao hơn trứng vịt, trong trứng gà còn có cả vitamin D, một loại vitamin có rất ít trong thực phẩm. Hàm lượng chất đạm của trứng gà cũng cao hơn trứng vịt. Chất béo trong trứng gà thấp hơn nên ít gây đầy bụng khó tiêu. Như vậy cho trẻ ăn trứng gà thì tốt hơn.

Trứng là thực phẩm rất tốt nhưng cũng không nên ăn quá nhiều. Hàm lượng chất béo trong trứng cao làm trẻ dễ bị đầy bụng, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa. Tùy theo tháng tuổi của trẻ, cha mẹ có thể cho con ăn với lượng khác nhau:

Trẻ 6-7 tháng tuổi: Chỉ nên ăn một nửa lòng trứng gà mỗi bữa, 2-3 lần một tuần.

Trẻ 8-12 tháng tuổi: Ăn một lòng đỏ mỗi bữa, 3-4 bữa trứng một tuần.

Trẻ 1-2 tuổi: Ăn 3-4 quả trứng mỗi tuần, ăn cả lòng trắng.

Trẻ từ 2 tuổi trở lên nếu thích trứng có thể cho ăn mỗi ngày một quả.

Cách chế biến trứng tốt nhất là luộc chín tới, không những bảo đảm được chất dinh dưỡng như protein, lipid, khoáng chất... mà các vitamin ít bị mất đi ít, phòng nhiễm khuẩn... 

Cách luộc trứng đúng: Cho trứng cùng với nước lã vào nồi rồi đun sôi dần. Khi nước sôi, vặn nhỏ lửa đun khoảng 2 phút rồi tắt bếp ngâm trứng khoảng 5 phút. Như vậy, trứng vừa chín tới, lòng đỏ không bị chín kỹ quá, dễ hấp thu. Lúc luộc, có thể cho thêm một ít muối để giữ cho trứng không bị vỡ.

Trứng vừa lấy ở tủ lạnh ra không nên luộc ngay, cũng không nên ngâm trong nước nóng hay luộc bằng lửa quá to vì dễ gây vỡ trứng, hoặc không chín lòng đỏ.

Trẻ nhỏ nên ăn bao nhiêu trứng là đủ

Cách chế biến trứng cho trẻ tùy theo tháng tuổi


Trẻ 6-12 tháng nên cho ăn bột trứng. Nấu chín bột xong mới cho trứng. Cách làm: Đập lòng đỏ trứng vào bát đã có rau băm nhỏ, đánh đều trứng và rau, nấu bột sôi trên bếp rồi đổ trứng và rau vào khuấy đều nhanh tay, bột sôi lên là được. Không nên đun kỹ quá trứng khó hấp thu. Cũng không nên luộc chín trứng rồi nghiền lòng đỏ nấu bột vì qua nhiều lần chế biến trứng khó hấp thu.

Trẻ 1-2 tuổi có thể ăn cháo trứng, cũng tương tự như nấu bột trứng, khi cháo chín mới cho trứng, đun sôi lại là được, ngoài ra có thể cho trẻ ăn trứng luộc vừa chín tới.

Trẻ từ 2 tuổi trở lên ăn cháo trứng, trứng luộc, trứng rán đúc thịt, trứng sốt cà chua ăn với cơm. Tốt nhất là ăn trứng luộc chín tới.

Lý do bạn không nên để trứng ở cánh tủ lạnh

Có nên để trứng ở cánh tủ lạnh không? Đó là câu hỏi đã gây tranh cãi suốt thời gian vừa qua. Nhiều người cho rằng, cánh tủ lạnh được thiết kế với giá để trứng chuyên dụng là có mục đích của nó, trong khi nhiều người khác lại nghĩ rằng các nhà thiết kế tủ lạnh chỉ muốn tiết kiệm không gian chứ không thực sự am hiểu về khoa học sinh học.

Lý do bạn không nên để trứng ở cánh tủ lạnh

Theo các chuyên gia, trứng nên được để nguyên trong hộp nhựa khi mua từ siêu thị, hoặc nếu mua ở chợ thì bạn cũng nên để chúng vào hộp kín, đặt vào ngăn giữa tủ lạnh để có nhiệt độ ổn định, tránh dẫn tới biến chất.

Cửa tủ lạnh không chỉ là nơi nóng nhất trong tủ, ít được làm lạnh, mà còn dễ chịu tác động gây thay đổi nhiệt độ, trứng sẽ dễ bị hỏng hơn.

Hội đồng giám định trứng Anh quốc khuyên rằng trứng được bảo quản tốt nhất trong các hộp kín và duy trì mức nhiệt độ ổn định dưới 20°C và tránh xa những thứ nặng mùi thì trứng rất dễ hấp thụ mùi.

Ngoài ra, mọi người cũng nên tránh di chuyển chúng quá thường xuyên giữa môi trường nhiệt độ quá lạnh và quá nóng, ví dụ như từ siêu thị điều hòa lạnh đem ra ngoài trời quá nóng, hay từ tủ lạnh để lên bếp nóng.

Việc giữ trứng liên tục ở nhiệt độ lạnh giúp chống lại nguy cơ sản sinh salmonella, loại vi khuẩn gây ra ngộ độc và thương hàn.

Nếu có thời gian, bạn nên bỏ trứng ra khỏi tủ lạnh trước khi nấu khoảng 1 tiếng để chúng có thể "nguội" từ từ về tới nhiệt độ phòng trước khi được làm chín.

Những người không nên ăn thịt vịt

Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ trong mỗi tuần bạn nên ăn thịt vịt ít nhất một lần để cơ thể có đủ chất dinh dưỡng và giúp ổn định tinh thần, kéo dài cuộc sống của bạn.

Thành phần thịt vịt có chứa lượng lớn protein, sắt, canxi, phot pho, vitamin A, vitamin B1, vitamin D… cần thiết cho sức khỏe và quá trình tăng cân. Chính vì thế, ăn thịt vịt rất có lợi cho sức khỏe.

Theo Đông y, thịt vịt có vị ngọt, hơi mặn, tính hàn, tác dụng tư âm, dưỡng vị, lợi thủy tiêu thũng, giải độc. Ăn thịt vịt có tác dụng tốt trong việc hỗ trợ chữa bệnh tim mạch, hỗ trợ điều trị lao phổi và ung thư (đang xạ trị, hóa trị).

Ăn thịt vịt có ích cho người thể chất suy nhược, chán ăn, sốt, phù nề, người thể chất yếu sau khi bệnh, đổ mồ hôi ban đêm, lòng bàn tay bàn chân nóng, phụ nữ kinh nguyệt ít, khí hư bạch đới, sản phụ thiếu sữa.

Để khắc phục tình trạng tăng huyết áp, ù tai, váng đầu, chóng mặt, mỗi buổi sáng, nên ăn 1 quả trứng vịt muối. Nếu trộn trứng vịt với bột sò biển để tráng lên ăn thì tác dụng chữa bệnh càng cao.

Tuy vậy, không phải ai cũng nên ăn thịt vịt !

Những người không nên ăn thịt vịt

Những người không nên ăn thịt vịt


1. Người đang bị cảm


Theo Y học cổ truyền, thịt vịt tính hàn, hơi mặn, có vị ngọt, có nhiều tác dụng như bồi bổ cơ thể, bổ hư, lợi tiểu, ích tạng, giải nhiệt, hỗ trợ điều trị nhiều loại bệnh như bệnh tim mạch, lao phổi hay ung thư… Do có tính hàn cho nên người đang bị cảm tuyệt đối không nên dùng thịt vịt để tránh bệnh nặng hơn.

2. Người bị bệnh gout


Trong thịt vịt có chứa một lượng purin cao, nó có thể làm tăng lượng axit uric trong cơ thể. tinh thể uric lắng đọng trong. Là nguyên nhân khiến cho bệnh nhân gout khó chịu mỗi khi ăn thịt vịt xong.

3. Người có hệ tiêu hóa kém


Người có hệ tiêu hóa kém cũng nên ăn ít thịt vịt. Vì thịt vịt có tính hàn dễ làm suy yếu hệ tiêu hóa, thận, hệ thống miễn dịch…

4. Người mới phẫu thuật


Đối với người mới phẫu thuật xong, vết thương chưa lành cũng không nên ăn thịt vịt. Vì thịt vịt có chất tanh làm làm cho lâu lành.

Những bộ phận của gà không nên cho trẻ ăn

Một con gà có rất nhiều bộ phận có thể dùng chế biến thành thức ăn cho trẻ nhỏ. Nhiều bà mẹ thường hay cho con ăn đùi, một số lại nghĩ cho con ăn ức mới tốt, thậm chí, có những em bé lại chỉ thích ăn riêng một bộ phận của gà như cánh, phao câu, cổ hay lòng mề... Hầu hết các bộ phận của gà đều ngon nhưng không phải cái gì cũng tốt, đặc biệt là cho với em.

Những bộ phận của gà không nên cho trẻ ăn

1. Phao câu


Nhiều bà mẹ hay cho con ăn phao câu gà vì nghĩ rằng nó rất béo, lại có mùi mỡ gà đặc trưng. Tuy nhiên, đây lại được coi là một trong những bộ phận độc hại nhất trong cơ thể gà. Phao câu chứa túi xoang và các tế bào lâm ba, chất dịch độc hại tồn đọng ở đây sẽ có nguy cơ khiến trẻ bị ung thư nếu ăn quá nhiều và thường xuyên.

Tốt nhất, mẹ nên loại bỏ bộ phận này trước khi chế biến thịt gà. Vì chất dịch ở phao câu cũng khá là hôi hám và khó chịu.

2. Cổ gà


Phần cổ gà rất ít thịt nhưng là tập trung nhiều mạch máu và hạch bạch huyết. Hạch bạch huyết lại là nơi tập trung nhiều độc tố, có thể là các chất độc có trong quá trình cho gà ăn thức ăn chăn nuôi có chứa kích thích tố đọng lại ở cổ. Do đó nếu mẹ cho bé gặm cổ gà chính là mẹ đang nạp chất độc vào người con.

3. Da gà


Da gà là mới có chứa nhiều chất béo, hàm lượng cholesterol cao, lại có hàm lượng chất gây ô nhiễm lớn. Tuy nhiều trẻ thích ăn da gà nhưng các chuyên gia khuyến cáo mẹ nên cho con ăn thịt gà bỏ da là tốt nhất.

4. Mề gà


Mề gà thực chất chính là dạ dày gà, nó có nhiệm vụ lưu trữ và nghiền nhuyễn thức ăn. Chính vì vậy, mề cũng là nơi lượng chất độc hại dư thừa có thể đọng lại tại đây.

5. Thận gà


Thận cũng là nơi các chất gây hại tập trung chủ yếu bới sau khi gan lọc các chất độc hại, thận sẽ làm tiếp nhiệm vụ bài tiết, loại bỏ độc tố này. Nếu trẻ ăn thận có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Chính vì vậy, mẹ nên lưu ý tốt nhất không cho con ăn phần đầu gà, cổ gà, thịt gà nên bỏ da là tốt nhất và các bộ phận nội tạng như mề gà, gan gà, thận...đều nên hạn chế. 

Những điều cần biết khi ăn thịt gà

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, ngoài những chất albumin, chất béo, thịt gà còn có các vitamin A, B1, B2, C, E, axit, canxi, photpho, sắt. Đây là loại thực phẩm chất lượng cao, cơ thể con người dễ hấp thu và tiêu hoá.

Những điều cần biết khi ăn thịt gà

Đối với nhiều người, thịt gà là món dễ ăn, dễ chế biến. Nhưng thực tế, trên con gà có nhiều bộ phận không phải ai ăn cũng tốt, và khi kết hợp với thực phẩm khác sẽ gây hại cho sức khỏe. Dưới đây là một số lưu ý cần thiết trước khi ăn thịt gà:

Hạn chế ăn da gà, cổ gà


Mặc dù da gà ăn rất ngon nhưng nó lại không có lợi cho sức khỏe. Thông thường da gà chứa nhiều chất béo, lượng cholesterol cũng rất cao, đây cũng là nơi ở của nhiều loại vi khuẩn. Nhất là da ở cổ, một số tuyến bạch huyết giải độc đều tập trung ở lớp mỡ dưới da của cổ gà, trong những tuyến này có các độc tố gây bệnh và chất tăng trọng trong chăn nuôi còn lưu lại.

Đặc biệt khi chúng ta làm món gà quay, cholesterol trong da gà sẽ bị oxy hóa, tạo thành hợp chất rất nguy hại đối với sức khỏe, nếu nhiệt độ quá cao còn có thể sinh ra chất gây ung thư.

Hạn chế ăn phao câu


Đây là phần ở vị trí mọc lông đuôi của con gà, có thịt rất mềm và ngậy nên nhiều người rất thích ăn. Bộ phận này là nơi tập trung của tuyến dịch bạch huyết, vì đại thực bào trong tuyến dịch bạch huyết có thể ăn các loại vi khuẩn và độc tố gây bệnh, thậm chí cả các chất gây ung thư, nhưng lại không thể phân giải chúng. Do vậy các chất độc đều đọng lại ở phần phao câu, lâu dần, nó trở thành cái “nhà kho lớn” chứa các loại virus, vi khuẩn là mầm gây bệnh.

Hạn chế ăn nội tạng


Nội tạng gà, nhất là mề gà, tuy ngon, được nhiều người ưa thích, nhưng là nơi chứa nhiều chất độc hại còn đọng lại của thức ăn nhiễm độc, cho nên tốt nhất chúng ta cũng không nên ăn, hoặc có ăn cũng nên hạn chế.

Không ăn nhiều cùng cơm nếp


Theo danh y An Nhân, cơm nếp cũng vị ngọt tính ấm nên hai thứ này kết hợp với nhau dễ sinh ra chứng bạch thốn trùng (dân gian gọi là sán dây, sán sơ mít). Do vậy, ta cũng không nên ăn hai thứ này nhiều một lúc.

Không ăn với cá chép, tôm


Thịt gà cam ôn, cá chép cam hàn, ăn lẫn sẽ sinh chứng mụn nhọt hoặc phát chứng trường ung, khi bị nên nấu nước đỗ đen uống sẽ khỏi. Tôm và gà đều cam ôn cả hai tính dễ động phong. Ăn cùng sẽ dễ bị mẩn ngứa trên da.

Không ăn cùng muối vừng và kinh giới


Thịt gà thuộc phong mộc về tạng can. Còn vừng vị ngọt có tác dụng dưỡng can, dưỡng huyết khu phong, kinh giới vị cay tính ấm phá kết khí (ngăn không cho phong khí tụ) hạ ứ huyết. Do vậy, khi kết hợp cùng nhau tất sẽ ảnh hưởng đến can phong sinh chứng chóng mặt, ù tai hoặc run rẩy cả người và ngứa ngáy đầu não.

15 Điều cần tránh khi nấu ăn để bảo vệ sức khỏe

Hãy tránh xa những cách chế biến thực phẩm dưới đây để đầy lùi bệnh tật và các mối nguy hại cho sức khỏe.

15 Điều cần tránh khi nấu ăn để bảo vệ sức khỏe

1. Không luộc rau củ quả quá nhừ để không làm giảm lượng vitamin có trong rau. Luộc rau củ quả quá nhừ sẽ làm giảm chất dinh dưỡng.

2. Không nên đun quá nóng chảo trước khi xào rau, vì như thế món ăn sẽ gây hại cho dạ dày, khiến dạ dày viêm loét, gây ợ chua.

3. Không cho mì chính vào những món ăn có nhiều vị chua. Vì mì chính sẽ phát sinh ra một loại axít mới có hại cho sức khỏe.

4. Không tẩm ướp gia vị quá sớm khi quay thịt, dễ làm cho protein trong thịt bị đông cứng lại, miếng thịt co nhỏ, không ngon.

5. Không đổ nước lạnh vào nồi nước hầm thịt, nước lạnh sẽ làm cho protein và lipid đông lại, món ăn không còn chất bố dưỡng.

6. Không ngâm thịt, cá vào chậu nước, vì như thế khoáng chất sẽ giảm đi đáng kể.

7. Không bật to lửa khi rán mỡ lợn, nhiệt độ cao mỡ có thể sinh ra một chất rất hôi, ăn vào sẽ có hại cho thực quản, khí quản lẫn hệ tiêu hóa.

8. Không làm muội trứng luộc bằng nước lạnh. Khi trứng gặp nước lạnh sẽ co lại, tạo ra khoảng trống khiến cho vi khuẩn rất dễ xâm nhập không tốt cho sức khỏe.

9. Không dùng nước nóng để rã đông thịt. Vì các chất ngọt trong thịt sẽ nhanh chóng hòa tan vào nước, thịt không còn mềm và thơm nữa.

10. Không cho giấm vào rau xào, vì trong giấm có chứa axit, rau sẽ bị giảm đi chất dinh dưỡng.

11. Không cho gừng vào cá quá sớm khi kho cá. Vì chất protein từ cá tiết ra sẽ làm cho gừng không thể phát huy tác dụng khử mùi tanh.

12. Không để lửa quá to khi luộc mì. Vì sợi mì sẽ bị cứng bên trong, không còn ngon nữa.

13. Không nấu hoặc ninh kỹ nước mắm quá, vì nhiệt độ cao dễ làm mất đi các axit amin trong mắm.

14. Không cho hạt tiêu vào thức ăn khi nấu. Hạt tiêu nấu ở nhiệt độ cao sẽ mất đi mùi đặc trưng và dễ gây ung thư.

15. Không dùng dầu chiên đi chiên lại. Nếu dùng dầu chiên đi chiên lại sẽ tạo ra chất trans fat (chết béo bão hòa) có thể gây ung thư.

4 không khi ăn cháo lòng buổi sáng

Nội tạng động vật gồm thận, dạ dày, ruột, tim, lưỡi, và gan có chứa lượng chất béo bão hòa và cholesterol cao hơn so với thịt và nếu tiêu thụ nhiều sẽ làm tăng mỡ máu có hại cho tim mạch, đặc biệt đối với người cao tuổi, người béo phì và người mắc bệnh rối loạn chuyển hóa: tiểu đường, huyết áp cao, gút..

4 không khi ăn cháo lòng buổi sáng

4 không khi ăn cháo lòng buổi sáng

Không ăn cháo lòng khi người bị cảm, mệt mỏi


Cháo lòng rất nhiều cholesterone khó tiêu hóa. Bên cạnh đó, chúng có chứa nhiều bệnh tồn tại trong nội tạng của con vật. Do đó, những bệnh này có thể lây nhiễm sang người ăn.

Bởi thế, khi bị cảm hoặc mệt mỏi, bạn không nên ăn cháo lòng vì khó tiêu và không đảm bảo vệ sinh. Lúc bị cảm, bạn nên ăn cháo nóng có hành hoa, tía tô, kinh giới và trứng thì sẽ giúp giải cảm và có cơ thể khỏe mạnh.

Bà bầu không nên ăn cháo lòng


Như chúng ta đã biết, các nội tạng động vật không rõ nguồn gốc tiềm ẩn nhiều nguy cơ nhiễm vi khuẩn,vi rút, ký sinh trùng (giun, sán) lây bệnh sang người. Chẳng hạn như lòng lợn rất bẩn.

Ngoài ra, nếu gan động vật chăn nuôi không vệ sinh (do ăn thức ăn chăn nuôi nhiễm nấm mốc) nguy cơ ô nhiễm độc tố vi nấm Aflatoxin cao – chất có khả năng gây ung thư gan ở người.

Đặc biệt, nếu lợn nhiễm liên cầu khuẩn Streptococcus suis hay kể cả lợn bệnh và lợn lành mang trùng không phát bệnh), trong máu (tiết), lòng ruột nội tạng và thịt lợn sẽ chứa một lượng lớn vi khuẩn.

Khi ăn các sản phẩm từ lợn này như tiết canh, lòng, nem chua, cháo lòng… chưa được nấu chín thì liên cầu khuẩn từ thức ăn đó sẽ xâm nhập vào cơ thể người và gây bệnh. Điều này cực nguy hại cho sức khỏe bà bầu.

Không ăn cháo lòng khi có đường tiêu hóa kém


Một số ruột động vật có lượng rất lớn vi khuẩn E. Coli và các vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn.

Nhất là với những người có đường tiêu hóa kém mà ăn phải cháo lòng, nội tạng nấu không chín kỹ hay ô nhiễm chéo sang các thức ăn nước uống khác trong quá trình chế biến thì có thể phải đối mặt với các bệnh nhiễm khuẩn khác như lao, than, lợn đóng dấu…, các bệnh ký sinh trùng như sán dây, sán chó và giun xoắn cho người.

Người mắc các bệnh này thông thường để lại hậu quả nặng nề về sức khỏe. Nặng hơn có thể tử vong.

Không ăn cháo lòng khi đã béo phì hoặc mắc các bệnh tim mạch


Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trong nội tạng có nhiều chất đạm nhưng nó cũng chứa nhiều chất béo, đặc biệt hàm lượng cholesterol rất cao, nhất là trong óc, gan và cật lợn.

Đối với những người cao tuổi, người mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa như tăng cholestetol máu, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, gout, thừa cân, béo phì… cần kiêng tuyệt đối phải kiêng ăn cháo lòng từ nội tạng gia súc.

Thịt lợn không nên ăn chung với những thực phẩm này

Thịt lợn và những phụ phẩm từ thịt lợn như nội tạng, gan, lưỡi,… chứa hàm lượng protein cao cùng nhiều vitamin và khoáng chất. Đặc biệt, nó rất giàu thiamin - một trong những vitamin nhóm B đóng vai trò thiết yếu trong các chức năng của cơ thể. Ngoài ra, thịt lợn chứa nhiều selenium, kẽm - chất cần thiết cho bộ não và hệ thống miễn dịch khỏe mạnh.

Theo Đông y, thịt lợn bổ hư, bổ gan huyết, làm mềm mượt da và tăng cường khí lực. Nó cung cấp nguồn chất đạm, sắt, kali dồi dào cùng nhiều loại axit amin cần thiết.

Thịt lợn không nên ăn chung với những thực phẩm này

Từ thịt lợn, chị em nội trợ có thể kết hợp với đủ loại thực phẩm, chế hiến thành nhiều món ăn ngon khác nhau như thịt kho trứng, thịt nấu đông, thịt chiên,… Tuy nhiên, có loại thực phẩm kết hợp với thịt lợn sẽ gây tổn hao khí huyết, ảnh hưởng tới sức khỏe.

Thịt dê


Thịt dê có tính hàn. Vì vậy, thịt lợn nấu hoặc ăn chung  với thịt dê sẽ khiến khí huyết bị ứ trệ, không lưu thông dẫn đến sinh đờm (chất độc hại). Từ đó, nó sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Thịt trâu


Giống thịt dê, thịt trâu mang tính hàn. Khi ăn cùng thịt lợn sẽ sinh tính ngưng trệ và xuất hiện 1 loại giun sán mang tên sán xơ mít.

Gừng sống


Trong Đông y, thịt lợn có tính thủy và gừng sống có tính hỏa. Nếu kết hợp gừng sống với thịt lợn sẽ xảy ra tương khác, sinh chứng phong thấp. Thậm chí, nó có thể gây ra hiện tượng nổi các nốt đen ở mặt.

Rau mùi


Rau mùi có tính tân tán, còn thịt lợn mang tính ngưng trệ. Khi 2 thực phẩm khắc nhau kết hợp sẽ khiến xung quanh rốn đau quặn.

Trái mơ


Thịt và mỡ lợn cực kỵ trái mơ. Bởi, quả mơ có tính chua khi kết hợp với thịt hay mỡ lợn mang tính ngọt lạnh sẽ sinh ra bệnh tả lỵ (thổ tả hoặc kiết lỵ).

Ngoài ra, thịt lợn còn kỵ mạnh với gỏi cá và dấm thanh. Dấm thanh mang tính chua, gỏi cá là thứ sống lạnh. Nếu ăn chung với 3 thực phẩm này hoặc ăn liên tiếp nhau sẽ sinh chứng kiết lỵ hoặc đau bụng, tiêu chảy.

Sai lầm khi dùng dầu ăn ai cũng mắc

Dầu ăn chiên đi chiên lại


Dầu ăn sau khi dùng để chiên, rán tốt nhất nên bỏ đi không nên sử dụng lại vì sau khi rán, mùi mỡ đã có mùi thức ăn cũ, khét khi dung chế biến tiếp sẽ làm thực phẩm mất hương vị thơm ngon. Sau khi nấu ở nhiệt độ cao trong thời gian dài, trong dầu ăn rất dễ sản sinh ra transfat – một chất có hại cho sức khỏe, aldehyde, fatty acid oxide... Những chất này khi đi vào cơ thể sẽ phá hủy các men tiêu hóa làm khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy, các bệnh lý tim mạch, ung thư…

Dầu ăn chiên đi chiên lại cũng làm giảm giá trị của dầu, phá hủy các vitamin có trong dầu. Đồng thời những cặn thực phẩm bị cháy trong quá trình chiên rán còn đọng lại trong dầu đã qua sử dụng mà mắt thường không nhìn thấy cũng là một tác nhân gây hại cho sức khỏe người sử dụng.

Vì vậy, khi nấu ăn, các bà nội trợ cần cân đối lượng dầu mỡ phù hợp tránh lãng phí và không dùng lại dầu, mỡ thừa.

Sai lầm khi dùng dầu ăn ai cũng mắc

Dùng dầu ở nhiệt độ cao


Một sai lầm "chết người" mà rất nhiều người mắc phải là cho dầu vào nồi rồi chờ tới khi dầu ăn sôi và bốc khói mới cho thức ăn vào chế biến. Nhiệt độ cao không những làm ảnh hưởng, phá vỡ chất dinh dưỡng có trong dầu ăn và còn sản sinh ra các chất độc là nguyên nhân dẫn tới căn bệnh ung thư.


Các nhà khoa học cho rằng, dầu ăn khi đun nóng trên 180 độ C sẽ khiến dầu biến chất sinh ra các chất độc hại. Cụ thể, khi bị ra nhiệt quá cao (đun nấu ở nhiệt độ cao), các chất axit béo trong dầu thực vật sẽ bị rối loạn cấu trúc tế bào, có thể gây đột biến gen. Chúng có thể tạo ra các amin sinh vật dẫn đến nguy cơ gây ung thư, đặc biệt là ung thư trực tràng, ung thư gan, phổi, vú. Ngoài ra chúng còn có nguy cơ làm giảm miễn dịch của cơ thể do làm dư thừa lipid...

Để an toàn, bạn có thể dùng chảo hay nồi để trên bếp cho tới khi nóng già rồi mới đổ dầu vào và chế biến. Nhận biết nhiệt độ dầu qua cảm quan bằng cách dầu càng sôi lâu thì nhiệt độ càng tăng.

Ăn duy nhất một loại dầu ăn


Hiện nay, hầu như các gia đình thường chỉ dùng duy nhất một loại dầu ăn. Thật ra nên dùng nhiều loại dầu ăn để thay thế cho nhau hoặc là mỗi loại nên dùng trong một thời gian. Hết quãng thời gian đó thì chuyển sang loại dầu ăn khác vì không phải loại dầu ăn nào cũng đáp ứng đầy đủ những chất mà cơ thể cần. Việc thay đổi các loại dầu ăn khác nhau sẽ có lợi cho cơ thể.

Nhiều người lại có tâm lý ngại dầu ăn vì sợ chất béo. Đây là cách nghĩ sai lầm. Nhu cầu chất béo chiếm từ 15 - 30% trên tổng năng lượng mang lại từ khẩu phần ăn là cân đối. Dầu ăn sẽ cung cấp một lượng chất béo hữu ích.

Trong căn bếp của mỗi gia đình nên có 2 loại dầu. Một loại phù hợp cho chiên, rán như các loại dầu cooking vì có khả năng chịu được nhiệt độ cao trong quá trình nấu nướng. Còn một loại dầu chỉ dùng để sử dụng với những món ăn xào, ướp thực phẩm, ăn sống trực tiếp, làm salad, gỏi như các loại dầu như hướng dương, đậu nành, hạt cải, ô-liu… hấp thu tốt các vitamin A, D, E, K có trong thực phẩm, bổ sung các acid béo thiết yếu và tăng vị ngon cho thức ăn.

Dùng dầu ăn hoàn toàn thay mỡ


Để có sức khỏe tốt khi nấu ăn tốt nhất nên dùng cả dầu thực vật và mỡ động vật để chế biến thức ăn. Mỡ động vật vẫn có những tác dụng nhất định với cơ thể nên chúng ta vẫn cần dùng đến trong thực đơn hàng ngày. Mỡ động vật cung cấp lipid để cấu tạo nên các bộ phận trong cơ thể, cung cấp cholesterol cho cơ thể mặc dù số lượng không nhiều. Dầu thực vật có tác dụng cung cấp các axit béo không no (omega 3 và omega6).

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên, với người khỏe mạnh bình thường thì nên sử dụng song song dầu thực vật mà mỡ động vật (trẻ em nên ăn theo tỉ lệ 50 - 50). Còn với người béo phì, cholestorol cao, mỡ máu, có nguy cơ tăng huyết áp, tiểu đường… thì chỉ nên dùng dầu thực vật để giảm lượng chất béo động vật vào cơ thể. Nggười bị xơ vữa động mạch đã có biểu hiện ra thành bệnh tim mạch thì nên ăn hoàn toàn dầu thực vật.

Sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh

Cà muối là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng nhưng không nhiều. Dù giá trị dinh dưỡng của cà muối ở mức thấp. Tuy nhiên, cà muối lại có tác dụng kích thích quá trình tiêu hóa, làm hài hòa các thực phẩm trong mâm cơm. Đây là món ăn có tác dụng điểm xuyết, nâng cao mặt thẩm mỹ trong giữa các món ăn. Tuy vậy, những sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh.

Sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh

Ăn cà muối hỏng


Không ăn dưa muối có hiện tượng nhớt, thâm đen, váng mốc hay có mùi lạ vì đó là dưa đã bị hỏng, vô cùng độc hại cho sức khỏe.

Ăn cà muối xổi


Trong dưa cà muối xổi, ăn vẫn còn vị cay nồng, hăng hăng, hàm lượng nitrat bị chuyển hóa thành nitrit do vi sinh vật có trong nước dưa cà muối. Lúc này Nitrit sẽ kết hợp với các acid amin trong thực phẩm như cua, tôm, cá, thịt, nhất là mắm tôm và trở thành nitrosamine - một chất có khả năng gây bệnh.

Cà không đảm bảo vệ sinh


Trước khi muối dưa, phải rửa nguyên liệu và các dụng cụ để muối thật kỹ. Cần tạo môi trường lên men tốt và giữ gìn vệ sinh trong quá trình muối dưa, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn có hại. Tốt nhất là muối dưa nhà trồng để hạn chế được việc dưa có chứa phân đạm urê nhằm đảm bảo vệ sinh thực phẩm.

Không nên ăn cà muối quá chua


Những người bị bệnh tim, tăng huyết áp, bệnh thận, bệnh gan, viêm loét dạ dày không nên ăn dưa muối chua vì chúng chứa nhiều muối, men tiêu hóa cao, có thể gây ra những biến chứng bất lợi cho sức khỏe.

Người bị bệnh thận không nên ăn nhiều


Khi ướp  cà có 1 lượng lớn của muối. Ăn mặn sẽ gây hại cho thận, tim và dễ dẫn đến tăng huyết áp.

Cách ăn cà an toàn


Nên muối bằng vại gốm, sành: Ngoài việc dưa, cà muối có thể gây độc cho cơ thể khi bị nhiễm các loại thuốc bảo vệ thực vật. Tuyệt đối không ăn dưa, cà được muối trong các thùng đựng sơn.

Nên muối dưa cà nên sử dụng đồ chứa bằng gốm, sành sứ không có hoa văn lòe loẹt. Tiện dụng nhất là sử dụng đồ chứa bằng nhựa màu trắng, được sản xuất từ nhựa PVC.

Để cà muối không trở thành “thủ phạm” gây hại cho sức khỏe, các chuyên gia tư vấn, đối với dưa muối, nên để khi dưa có màu vàng, có mùi thơm thì mới ăn.