Showing posts with label Ẩm thực & Sức khỏe. Show all posts
Showing posts with label Ẩm thực & Sức khỏe. Show all posts

Thịt lợn không nên ăn chung với những thực phẩm này

Thịt lợn và những phụ phẩm từ thịt lợn như nội tạng, gan, lưỡi,… chứa hàm lượng protein cao cùng nhiều vitamin và khoáng chất. Đặc biệt, nó rất giàu thiamin - một trong những vitamin nhóm B đóng vai trò thiết yếu trong các chức năng của cơ thể. Ngoài ra, thịt lợn chứa nhiều selenium, kẽm - chất cần thiết cho bộ não và hệ thống miễn dịch khỏe mạnh.

Theo Đông y, thịt lợn bổ hư, bổ gan huyết, làm mềm mượt da và tăng cường khí lực. Nó cung cấp nguồn chất đạm, sắt, kali dồi dào cùng nhiều loại axit amin cần thiết.

Thịt lợn không nên ăn chung với những thực phẩm này

Từ thịt lợn, chị em nội trợ có thể kết hợp với đủ loại thực phẩm, chế hiến thành nhiều món ăn ngon khác nhau như thịt kho trứng, thịt nấu đông, thịt chiên,… Tuy nhiên, có loại thực phẩm kết hợp với thịt lợn sẽ gây tổn hao khí huyết, ảnh hưởng tới sức khỏe.

Thịt dê


Thịt dê có tính hàn. Vì vậy, thịt lợn nấu hoặc ăn chung  với thịt dê sẽ khiến khí huyết bị ứ trệ, không lưu thông dẫn đến sinh đờm (chất độc hại). Từ đó, nó sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Thịt trâu


Giống thịt dê, thịt trâu mang tính hàn. Khi ăn cùng thịt lợn sẽ sinh tính ngưng trệ và xuất hiện 1 loại giun sán mang tên sán xơ mít.

Gừng sống


Trong Đông y, thịt lợn có tính thủy và gừng sống có tính hỏa. Nếu kết hợp gừng sống với thịt lợn sẽ xảy ra tương khác, sinh chứng phong thấp. Thậm chí, nó có thể gây ra hiện tượng nổi các nốt đen ở mặt.

Rau mùi


Rau mùi có tính tân tán, còn thịt lợn mang tính ngưng trệ. Khi 2 thực phẩm khắc nhau kết hợp sẽ khiến xung quanh rốn đau quặn.

Trái mơ


Thịt và mỡ lợn cực kỵ trái mơ. Bởi, quả mơ có tính chua khi kết hợp với thịt hay mỡ lợn mang tính ngọt lạnh sẽ sinh ra bệnh tả lỵ (thổ tả hoặc kiết lỵ).

Ngoài ra, thịt lợn còn kỵ mạnh với gỏi cá và dấm thanh. Dấm thanh mang tính chua, gỏi cá là thứ sống lạnh. Nếu ăn chung với 3 thực phẩm này hoặc ăn liên tiếp nhau sẽ sinh chứng kiết lỵ hoặc đau bụng, tiêu chảy.

Sai lầm khi dùng dầu ăn ai cũng mắc

Dầu ăn chiên đi chiên lại


Dầu ăn sau khi dùng để chiên, rán tốt nhất nên bỏ đi không nên sử dụng lại vì sau khi rán, mùi mỡ đã có mùi thức ăn cũ, khét khi dung chế biến tiếp sẽ làm thực phẩm mất hương vị thơm ngon. Sau khi nấu ở nhiệt độ cao trong thời gian dài, trong dầu ăn rất dễ sản sinh ra transfat – một chất có hại cho sức khỏe, aldehyde, fatty acid oxide... Những chất này khi đi vào cơ thể sẽ phá hủy các men tiêu hóa làm khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy, các bệnh lý tim mạch, ung thư…

Dầu ăn chiên đi chiên lại cũng làm giảm giá trị của dầu, phá hủy các vitamin có trong dầu. Đồng thời những cặn thực phẩm bị cháy trong quá trình chiên rán còn đọng lại trong dầu đã qua sử dụng mà mắt thường không nhìn thấy cũng là một tác nhân gây hại cho sức khỏe người sử dụng.

Vì vậy, khi nấu ăn, các bà nội trợ cần cân đối lượng dầu mỡ phù hợp tránh lãng phí và không dùng lại dầu, mỡ thừa.

Sai lầm khi dùng dầu ăn ai cũng mắc

Dùng dầu ở nhiệt độ cao


Một sai lầm "chết người" mà rất nhiều người mắc phải là cho dầu vào nồi rồi chờ tới khi dầu ăn sôi và bốc khói mới cho thức ăn vào chế biến. Nhiệt độ cao không những làm ảnh hưởng, phá vỡ chất dinh dưỡng có trong dầu ăn và còn sản sinh ra các chất độc là nguyên nhân dẫn tới căn bệnh ung thư.


Các nhà khoa học cho rằng, dầu ăn khi đun nóng trên 180 độ C sẽ khiến dầu biến chất sinh ra các chất độc hại. Cụ thể, khi bị ra nhiệt quá cao (đun nấu ở nhiệt độ cao), các chất axit béo trong dầu thực vật sẽ bị rối loạn cấu trúc tế bào, có thể gây đột biến gen. Chúng có thể tạo ra các amin sinh vật dẫn đến nguy cơ gây ung thư, đặc biệt là ung thư trực tràng, ung thư gan, phổi, vú. Ngoài ra chúng còn có nguy cơ làm giảm miễn dịch của cơ thể do làm dư thừa lipid...

Để an toàn, bạn có thể dùng chảo hay nồi để trên bếp cho tới khi nóng già rồi mới đổ dầu vào và chế biến. Nhận biết nhiệt độ dầu qua cảm quan bằng cách dầu càng sôi lâu thì nhiệt độ càng tăng.

Ăn duy nhất một loại dầu ăn


Hiện nay, hầu như các gia đình thường chỉ dùng duy nhất một loại dầu ăn. Thật ra nên dùng nhiều loại dầu ăn để thay thế cho nhau hoặc là mỗi loại nên dùng trong một thời gian. Hết quãng thời gian đó thì chuyển sang loại dầu ăn khác vì không phải loại dầu ăn nào cũng đáp ứng đầy đủ những chất mà cơ thể cần. Việc thay đổi các loại dầu ăn khác nhau sẽ có lợi cho cơ thể.

Nhiều người lại có tâm lý ngại dầu ăn vì sợ chất béo. Đây là cách nghĩ sai lầm. Nhu cầu chất béo chiếm từ 15 - 30% trên tổng năng lượng mang lại từ khẩu phần ăn là cân đối. Dầu ăn sẽ cung cấp một lượng chất béo hữu ích.

Trong căn bếp của mỗi gia đình nên có 2 loại dầu. Một loại phù hợp cho chiên, rán như các loại dầu cooking vì có khả năng chịu được nhiệt độ cao trong quá trình nấu nướng. Còn một loại dầu chỉ dùng để sử dụng với những món ăn xào, ướp thực phẩm, ăn sống trực tiếp, làm salad, gỏi như các loại dầu như hướng dương, đậu nành, hạt cải, ô-liu… hấp thu tốt các vitamin A, D, E, K có trong thực phẩm, bổ sung các acid béo thiết yếu và tăng vị ngon cho thức ăn.

Dùng dầu ăn hoàn toàn thay mỡ


Để có sức khỏe tốt khi nấu ăn tốt nhất nên dùng cả dầu thực vật và mỡ động vật để chế biến thức ăn. Mỡ động vật vẫn có những tác dụng nhất định với cơ thể nên chúng ta vẫn cần dùng đến trong thực đơn hàng ngày. Mỡ động vật cung cấp lipid để cấu tạo nên các bộ phận trong cơ thể, cung cấp cholesterol cho cơ thể mặc dù số lượng không nhiều. Dầu thực vật có tác dụng cung cấp các axit béo không no (omega 3 và omega6).

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên, với người khỏe mạnh bình thường thì nên sử dụng song song dầu thực vật mà mỡ động vật (trẻ em nên ăn theo tỉ lệ 50 - 50). Còn với người béo phì, cholestorol cao, mỡ máu, có nguy cơ tăng huyết áp, tiểu đường… thì chỉ nên dùng dầu thực vật để giảm lượng chất béo động vật vào cơ thể. Nggười bị xơ vữa động mạch đã có biểu hiện ra thành bệnh tim mạch thì nên ăn hoàn toàn dầu thực vật.

Sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh

Cà muối là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng nhưng không nhiều. Dù giá trị dinh dưỡng của cà muối ở mức thấp. Tuy nhiên, cà muối lại có tác dụng kích thích quá trình tiêu hóa, làm hài hòa các thực phẩm trong mâm cơm. Đây là món ăn có tác dụng điểm xuyết, nâng cao mặt thẩm mỹ trong giữa các món ăn. Tuy vậy, những sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh.

Sai lầm khi ăn cà muối có thể rước bệnh

Ăn cà muối hỏng


Không ăn dưa muối có hiện tượng nhớt, thâm đen, váng mốc hay có mùi lạ vì đó là dưa đã bị hỏng, vô cùng độc hại cho sức khỏe.

Ăn cà muối xổi


Trong dưa cà muối xổi, ăn vẫn còn vị cay nồng, hăng hăng, hàm lượng nitrat bị chuyển hóa thành nitrit do vi sinh vật có trong nước dưa cà muối. Lúc này Nitrit sẽ kết hợp với các acid amin trong thực phẩm như cua, tôm, cá, thịt, nhất là mắm tôm và trở thành nitrosamine - một chất có khả năng gây bệnh.

Cà không đảm bảo vệ sinh


Trước khi muối dưa, phải rửa nguyên liệu và các dụng cụ để muối thật kỹ. Cần tạo môi trường lên men tốt và giữ gìn vệ sinh trong quá trình muối dưa, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn có hại. Tốt nhất là muối dưa nhà trồng để hạn chế được việc dưa có chứa phân đạm urê nhằm đảm bảo vệ sinh thực phẩm.

Không nên ăn cà muối quá chua


Những người bị bệnh tim, tăng huyết áp, bệnh thận, bệnh gan, viêm loét dạ dày không nên ăn dưa muối chua vì chúng chứa nhiều muối, men tiêu hóa cao, có thể gây ra những biến chứng bất lợi cho sức khỏe.

Người bị bệnh thận không nên ăn nhiều


Khi ướp  cà có 1 lượng lớn của muối. Ăn mặn sẽ gây hại cho thận, tim và dễ dẫn đến tăng huyết áp.

Cách ăn cà an toàn


Nên muối bằng vại gốm, sành: Ngoài việc dưa, cà muối có thể gây độc cho cơ thể khi bị nhiễm các loại thuốc bảo vệ thực vật. Tuyệt đối không ăn dưa, cà được muối trong các thùng đựng sơn.

Nên muối dưa cà nên sử dụng đồ chứa bằng gốm, sành sứ không có hoa văn lòe loẹt. Tiện dụng nhất là sử dụng đồ chứa bằng nhựa màu trắng, được sản xuất từ nhựa PVC.

Để cà muối không trở thành “thủ phạm” gây hại cho sức khỏe, các chuyên gia tư vấn, đối với dưa muối, nên để khi dưa có màu vàng, có mùi thơm thì mới ăn.

Bạn đã sai lầm khi luộc những loại rau này

Rau xanh cung cấp cho cơ thể con người số lượng khổng lồ các vitamin, khoáng chất và chất xơ. Tuy nhiên, khi chế biến rau không đúng cách rất dễ khiến rau bị mất hết chất dinh dưỡng. Đặc biệt là những loại rau sau, bởi với một số loại rau này có chứa vitamin tan trong nước nên chuyên gia khuyến cáo không nên luộc.

Bạn đã sai lầm khi luộc những loại rau này

Bắp cải


Bắp cải luộc là món ăn vô cùng đơn giản nhưng lại không kém phần ngon miệng. Rau bắp cải luộc chấm với xì dầu hoặc trứng luộc dầm nước mắm, rất ngon. Tuy nhiên, khi luộc, cải bắp ra rất nhiều nước. Không phải ai cũng ăn hết nước cải bắp cải luộc nên sẽ bị thiếu hụt một lượng vitamin và khoáng chất không nhỏ.

Cải bó xôi (rau chân vịt)


Cải bó xôi không nhưng là thực phẩm thường ngày mà còn có nhiều tác dụng khá tốt trong y học, có thể điều trị bệnh tiểu đường, trĩ, trị mắt quáng gà, chống thiếu máu, hạ huyết áp, chống lão hóa nên khi chế biến bằng phương pháp luộc sẽ vô tình làm mất toàn bộ chất dinh dưỡng và công dụng vốn có của nó.

Vì vậy, cách nấu ăn lành mạnh nhất để bảo toàn chất dinh dưỡng trong rau là xào, hấp và luộc rau củ quả với lượng ít nước.

Các loại rau cải


Công dụng của rau cải xanh chứa vitamin A, B, C, K, axit nicotic, catoten, abumin…Rau cải xanh có tác dụng thanh nhiệt, chữa mụn nhọt, hỗ trợ tiêu hóa táo bón, hỗ trợ bệnh nhân cường giáp, tiểu đường, chữa viêm ruột – gout...

Do rau cải có chứa nhiều vitamin C nên khi nấu nên dùng phương pháp xào, hạn chế luộc. Nếu luộc nên cho ít nước. Nếu ăn lẩu, cần phải đậy nắp và khi sôi chín tới thì vớt ra ngay. Bằng cách này sẽ không hủy hoại vitamin C trong rau.

Rau dền


Rau dền giúp nhuận tràng, hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, trị kiết lị do nóng. Rau dền không nên luộc quá chín hoặc hâm đi hâm lại nhiều lần vì nitrat có trong lá sẽ bị chuyển đổi thành nitrit là chất không tốt cho sức khỏe.

Rau muống


Canh rau muống luôn là thực phẩm phổ biến trong mâm cơm mỗi gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết chế biến đúng cách.

Rau muống là loại rau chứa 90% nước, chất xơ, protein, vitamin C, vitamin E, chất béo, khoáng chất như sắt, kẽm, magie.

Chính vì chứa nhiều vitamin và khoáng chất nên loại rau này đem đến nhiều lợi ích với sức khỏe. Chúng cũng được coi là liều thuốc rất tốt cho người mắc bệnh thiếu máu, loãng xương, huyết áp thấp, phụ nữ mang thai, giảm nguy cơ táo bón.

Do đó, khi chế biến, mọi người không nên luộc mà thay vào đó nên chế biến bằng phương pháp xào.

Các loại đậu quả


Các loại đậu giàu tinh bột, nhiều loại khoáng chất, vitamin B và a-xít amin, có hiệu quả rất tốt đối với việc giảm bớt sự mệt mỏi, sưng phù hay tiểu tiện khó khăn…. Ngoài ra, các loại đậu còn có công dụng thanh nhiệt, giải độc.

Với những công dụng không ngờ này, chuyên gia về thực phẩm khuyến cáo mọi người nên chế biến sao cho đảm bảo chất dinh dưỡng; Không nên luộc các loại đậu mà thay vào đó nên xào, hấp hoặc nướng….

Về các loại rau củ quả: trồng nơi sạch sẽ nếu ăn sống được thì nên ăn sống. Ăn như vậy, là cách tốt nhất để đảm bảo chất dinh dưỡng.

Cà rốt và những tác dụng phụ

Củ cà rốt có thành phần dinh dưỡng phong phú, giàu đường cùng các loại vitamin cũng như năng lượng. Cà rốt đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như ngăn ngừa ung thư, giảm nguy cơ tim mạch, tiểu đường ...

Tuy nhiên, lạm dụng hoặc thường xuyên ăn nhiều cà rốt trong thời gian dài sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người sử dụng. Dưới đây là những tác dụng phụ do việc ăn quá nhiều cà rốt gây ra mà không nhiều người biết đến.

Cà rốt và những tác dụng phụ

 Vàng da


Cà rốt là loại thực phẩm chứa hàm lượng chất dinh dưỡng beta-carotene cao. Đây là tiền chất của vitamin A giàu chất chống ô xy hóa mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như làm đẹp da, sáng mắt, ngăn ngừa ung thư.

Tuy nhiên, việc thường xuyên ăn nhiều cà rốt, khiến lượng carotene tăng cao, cơ thể không kịp chuyển hóa hết thành vitamin A sẽ gây tích lũy và ứ đọng ở gan gây chứng vàng da, ăn không tiêu, mệt mỏi. Hiện tượng vàng da nhanh chóng được nhìn thấy ở những vùng da hở như tay, lòng bàn tay, chân, mặt và cổ.

Xì hơi


Một bát cà rốt nguyên chất chứa khoảng 12g carbohydrat (đường, tinh bột, chất xơ) trong đó có 4g là chất xơ. Khi ăn quá nhiều cà rốt, carbohydrat không được tiêu hóa hết, gây hiện tượng lên men trong ruột già và dẫn tới việc “xì hơi”.

Nhiều người cho rằng xì hơi là hiện tượng tự nhiên, không đáng lo ngại nhưng theo các bác sĩ, nếu hiện tượng xảy ra bất thường, liên tục trong thời gian dài, rất có thể là dấu hiệu của sức khỏe yếu kém, đặc biệt là nguy cơ bị ung thư ruôt.

Không hấp thụ chất dinh dưỡng


Nạp nhiều chất xơ sẽ làm gián đoạn quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng khác như sắt, kẽm, magie, canxi. Như vậy, nó sẽ khiến cơ thể bạn mất đi rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng, làm mất cân bằng và thiếu hụt dưỡng chất.

Ngoài ra, cà rốt cũng không chứa protein và chất béo. Trong khi đó, protein cần thiết cho cơ thể phát triển, tăng cường hệ miễn dịch. Còn chất béo cũng là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong việc cấu tạo màng tế bào, hỗ trợ sự phát triển của xương, sự phát triển của trí não.

Ngộ độc


Nhiều trường hợp được ghi nhận là ngộ độc natri do ăn quá nhiều cà rốt, đặc biệt là trẻ em. Ngoài ra, theo Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, do là loại thực phẩm khó trồng, khó chăm sóc, bảo quản nên trong cà rốt có khá nhiều thuốc trừ sâu gây hại cho sức khỏe. Ăn quá nhiều cà rốt làm tăng khả năng nhiễm độc và ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe con người.

Công dụng của quả dứa

Từ thời xa xưa, trước khi ra đời y học hiện đại, người ta đã sử dụng biện pháp tự nhiên để chữa trị các chứng rối loạn và bệnh tật. Nhiều trong số những biện pháp đó là nhờ các loại trái cây. Dứa cũng là một loại trái cây như vậy với nhiều tính chất dược liệu có thể chữa các loại bệnh khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy rằng, nếu một người ăn dứa trong cả 3 bữa ăn trong 7 ngày, họ có thể nhận thấy những thay đổi tích cực nhất định về sức khỏe.

Để có một cuộc sống khỏe mạnh, mọi người đều phải thực hiện một chế độ ăn uống sạch bao gồm rau, trái cây, cá và các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng khác, giúp nuôi dưỡng các tế bào cơ thể. Mỗi loại trái cây đều có lợi riêng cho sức khỏe của con người, nhưng nhìn chung, hầu hết các loại trái cây rất giàu chất chống oxy hóa và chất dinh dưỡng, giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa thiếu hụt vitamin trong cơ thể của bạn.

Bạn sẽ nhận thấy những lợi ích không nhỏ cho cơ thể nếu thực hiện việc ăn dứa thường xuyên trong 1 tuần.

Công dụng của quả dứa

1. Giảm cân


Dứa có thể hoạt động như một chất ức chế cảm giác thèm ăn tự nhiên và cũng có thể giúp bạn giảm đến 3 kg chỉ trong một tuần nếu bạn ăn nhiều dứa. Nó cũng có khả năng loại bỏ các tế bào mỡ một cách dễ dàng.

2. Khả năng detox tự nhiên


Ăn dứa thường xuyên có thể giúp loại bỏ các độc tố và chất thải ra khỏi cơ thể của bạn, từ đó nâng cao khả năng miễn dịch.

3. Làm giảm Cellulite


Hiện tượng da sần vỏ cam là đặc trưng của Cellulite. Đây là tình trạng mỡ, nước và bạch huyết tồn đọng trong lớp collagen dưới da. Dứa cũng có thể làm giảm khả năng giữ nước trong cơ thể của bạn và loại bỏ các tế bào chất béo, do đó giảm bớt đi cellulite và làm cho làn da của bạn săn chắc hơn.

4. Cải thiện tiêu hóa


Ăn dứa thường xuyên cũng có thể giúp bạn có một hệ tiêu hóa khỏe mạnh vì dứa rất giàu hàm lượng chất xơ, giúp loại bỏ các chất thải ra khỏi ruột già. Vì vậy, nó cũng có thể làm giảm chứng táo bón.

5. Cải thiện độ đàn hồi của da


Vì dứa rất giàu vitamin C – chất có tác dụng thúc đẩy sản xuất collagen và độ đàn hồi cho da, nên ăn nhiều dứa có thể giúp bạn có được một làn da tuyệt vời hơn.

6. Tăng cường các tế bào máu khỏe mạnh


Ăn dứa thường xuyên có thể cải thiện chất lượng của các tế bào máu đỏ vì dứa được biết đến có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu, do đó sẽ cho phép các tế bào máu nhận được nhiều oxy hơn.

7. Tăng cường sự trao đổi chất


Dứa có khả năng thúc đẩy tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể, do đó sẽ cải thiện sức khỏe tổng thể của bạn.

8. Làm giảm cơn đau


Dứa được biết có đặc tính chống viêm, do đó có thể giúp ích trong việc giảm đau khớp, đau cơ, nhức đầu…

6 Thực phẩm giúp mẹ lợi sữa

Những nguyên nhân gây thiếu sữa là mẹ ăn uống kém không đủ dinh dưỡng, mẹ bị stress tâm, thể sau sinh; do tắc ống dẫn sữa, viêm núm vú… Hai tình huống thiếu sữa mẹ thường gặp là bầu vú không căng sữa hoặc bầu sữa căng kèm cảm giác đau tức.

Bầu vú không căng sữa thường do sử dụng nhiều thuốc kháng sinh, giảm đau sau khi sinh. Nếu có bệnh lý dạ dày, mẹ thường chán ăn hoặc kém hấp thu, nên thường trong trạng thái suy nhược. Trong điều trị, mẹ cần tăng cường dinh dưỡng đủ các thành phần đạm, dầu, bột đường và các loại rau củ để có chất khoáng và vitamin.

Mặt khác, lo lắng, stress sau sinh cũng ảnh hưởng đến tâm sinh lý của người mẹ. Trong trường hợp này, ngoài việc bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cần phải có sự ân cần, chăm sóc động viên của người thân, đặc biệt là chồng.

Bầu sữa căng kèm cảm giác tức, đau có nghĩa là lượng sữa đủ, nhưng có thể các ống dẫn sữa không thông do bị hẹp hoặc tắc do viêm. Tình trạng này có thể điều trị bằng biện pháp cơ học: hút, xoa, vắt với lực vừa phải, nhẹ nhàng trên vú để giúp tiết sữa.

Mẹ cũng có thể sử dụng thuốc kháng viêm, đặc biệt các loại rau, quả, đậu… có tác dụng làm thuốc như: bồ ngót, rau đay, đu đủ (vừa chín), mướp hương, nghệ, gừng, các rau có lá màu xanh đậm…

6 Thực phẩm giúp mẹ lợi sữa

Chuối sứ


Đây là loại chuối quả to tròn, da hơi nhám. Thịt chuối nhiều hơn so với các loại chuối khác. Đặc biệt, lớp men của loại quả này tốt, sản phụ nếu ăn chuối sứ thường xuyên có thể giúp tăng lượng sữa.

Hoa chuối lá


Hoặc chuối tiêu thái nhỏ, luộc chín ăn hoặc trộn nộm với lạc, vừng rang, ăn 2- 3 bữa liền cũng giúp thông sữa rất tốt.

Rau khoai lang


Luộc hoặc xào lá rau khoai lang ăn hàng ngày vừa giúp nhuận tràng, vừa lợi sữa. Theo Người đưa tin, các bác sĩ dinh dưỡng đã khuyên rằng, những loại thực vật này không những không làm các mẹ lên cân khó kiểm soát mà còn có tác dụng nhuận tràng, lợi sữa nhờ việc cung cấp vitamin, đạm thực vật và các axit béo không no...

Nước chè vằng


Chè vằng là loại cây thân leo, mọc sâu ở trong rừng, đặc biệt là vùng núi Quảng Bình. Có 2 loại chè vằng: loại lá to thì gọi là chè vằng trâu và loại lá nhỏ gọi là vằng sẻ. Loại lá nhỏ thì uống thơm và ngon hơn. Sau khi lấy về rửa sạch, băm nhỏ, phơi khô để dành nấu nước uống dần có tác dụng nhiều sữa, uống chè càng đặc thì sữa càng nhiều.

Nước nụ hoặc lá vối


Nước vối hay trà vối là một loại đồ uống giải khát được nấu bằng nụ, hoặc lá vối đã ủ chín rồi phơi khô, cũng có thể dùng ngay khi lá còn tươi. Trong lá vối, nụ vối có tanin, một số chất khoáng, vitamin... Nước vối sử dụng giải khát, giải nhiệt, có tác dụng lợi tiểu và mát gan và đặc biệt có công dụng lợi sữa.

Nước lọc ấm


Ngoài những loại nước trên, một quy tắc 'bất di bất dịch' mẹ phải nhớ trong suốt thời gian cho con bú là uống nhiều nước lọc. Sản phụ được khuyên nên uống từ 2,5 - 3 lít nước mỗi ngày. Mẹ cho con bú nên uống nước ấm và cần uống 1 ly nước ấm trước khi cho con bú sẽ giúp kích thích sẽ nhanh về và về nhiều.

Rau ngò rí lợi sữa cho mẹ sau sinh

Rau ngò rí hay còn được gọi là ngò ta hay rau mùi, thuộc họ hoa tán. Là loại cây thảo nhỏ mọc hằng năm, cao 20 - 60cm hay hơn, nhẵn, thân mảnh, lá bóng màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều. Cụm hoa tán kép. Hoa màu trắng, ít khi màu hồng. Quả hình cầu màu vàng sậm.

Rau ngò rí lợi sữa cho mẹ sau sinh

Theo y học cổ truyền, rau mùi có vị cay, tính ấm.  Lá rau mùi có tác dụng kích thích tiêu hóa và làm thuốc bổ, chống đầy hơi, làm mạnh dạ dày, làm gia tăng sự bài tiết nước tiểu và làm hạ sốt.

Trong rau ngò rí (lá và hạt) chứa tinh dầu có tác dụng gây hưng phấn tình dục, được dùng hỗ trợ điều trị trong các trường hợp suy yếu sinh lý. Ngoài ra, rau ngò rí còn có tác dụng  long đờm, chữa  cảm cúm, cảm lạnh, nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi. Uống nước ép từ rau ngò rí còn giúp bổ sung cho cơ thể các vitamin như A, C, B1, B2 và chất sắt.

Rau ngò rí cũng được trồng ở khắp nơi để làm gia vị và làm thuốc. Người ta thu hái toàn cây vào mùa xuân và hè, dùng tươi hay phơi khô.

Làm cho sởi mọc nhanh và đều: trước mùa sởi, lấy cây ngò rí già rửa sạch hong gió cho khô để nấu nước tắm, giặt quần áo cho trẻ 1-2 tuần một lần. Khi bị sởi dùng lá hay hạt giã nhỏ, nhuyễn, với ít rượu trắng, cho vào bọc vải xoa nhẹ lên người từ trên xuống tay chân (trừ mặt) hoặc phun bằng miệng (sau khi đã súc miệng) xong mặc áo kín, tránh gió lùa.

Làm lợi sữa: Hạt ngò rí 12 g, gạo nếp lức 30 g, nấu cháo ăn, hoặc hạt mùi 6 g cho vào ấm cùng 100 ml nước, đun sôi khoảng 15 phút, lấy nước thuốc chia làm 2 phần uống hết trong ngày.

Làm đẹp da: Lấy toàn cây mùi ngò rí thân, cành, lá, hoa, quả, rễ nấu nước tắm, da trở nên mềm mại, sáng đẹp.

Chữa loét niêm mạc lưỡi: Lá rau ngò rí 20 g, rau húng chanh 12 lá, ngâm nước muối. Nhai kỹ ngậm nuốt từ từ, rất có hiệu quả.

Chữa mặt mọc nốt ruồi đen: Hạt ngò rí sắc nước rửa mặt thường xuyên (Nam dược thần hiệu).

Chữa lòi dom, sa trực tràng: Quả ngò rí đốt lên rồi tắt lửa cho khói lên để xông vào hậu môn.

Chữa chứng đau bụng lâm râm sau khi ăn, đầy hơi không tiêu: Rau ngò rí một nắm, vỏ quýt 8-10 g. Sắc uống khi nước còn ấm.

Chữa kiết lỵ: Đau bụng mót rặn đi ngoài không được, hoặc ra tí chút kèm máu, lấy hạt ngò rí 1 vốc sao thơm, tán nhỏ, mỗi lần uống khoảng 8 g. Nếu lỵ ra máu uống với nước đường, nếu lỵ ra đờm uống với nước gừng. Ngày 2 lần.

Chữa giun kim: Hạt ngò rí tán nhỏ, trứng gà luộc, ít dầu vừng nhào chung cho đều, viên nhỏ nhét vào hậu môn của trẻ khi trẻ ngủ đêm, làm 3 đêm liền.

Chữa tiêu chảy ra máu: Hạt ngò rí 1 vốc sao thơm, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8 g, với nước chín. Ngày 2 lần rất tốt (Nam dược thần hiệu).

Những thực phẩm không nên ăn với trứng

Trứng là loại thực phẩm quen thuộc và có giá trị dinh dưỡng đặc biệt cao. Trong trứng có đủ chất đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng, các men và hormone. Các chất khoáng như sắt, kẽm, đồng, mangan, iod... tập trung hầu hết trong lòng đỏ. Trong lòng trắng trứng chỉ có một ít vitamin tan trong nước (B2, B6).

Tuy nhiên, nếu kết hợp với một số món khác, trứng có thể gây hại cho sức khỏe của bạn.

Những thực phẩm không nên ăn với trứng

Đường


Một số người còn giữ thói quen nấu nước đường thắng để lấy màu khi chế biến món thịt kho trứng. Điều này sẽ làm cho protein fructose a-xít amin trong trứng tiếp hợp với lysine, tạo thành chất khó hấp thu trong cơ thể, theo Khỏe & Đẹp.

Óc lợn


Dùng trứng chung với óc lợn sẽ làm tăng cholesterol trong máu, dễ làm người ăn bị chứng cao huyết áp đột ngột, dẫn đến tử vong.

Hồng


Nếu trong thực đơn trước đó, bạn đã ăn trứng, thì không nên chọn hồng làm món tráng miệng. Nó có thể sẽ gây ngộ độc thực phẩm, hay nặng hơn là viêm dạ dày cấp tính với các dấu hiệu như buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng, theo Zing.

Chè xanh


Mọi người thường có thói quen uống nước chè sau khi ăn trứng để giảm mùi khó chịu, mà không hề biết cách ăn này rất hại cho sức khỏe.

Bởi axit tannic trong lá chè sẽ kết hợp với protein trong trứng tạo thành hợp chất protein axit tannic làm chậm hoạt động của nhu động ruột, kéo dài thời gian tích trữ phân trong ruột - nguyên nhân gây táo bón, tăng nguy cơ tích trữ các chất có hại cho cơ thể.

Thuốc tiêu viêm


Những người mắc bệnh về đường ruột, tiêu chảy, đặc biệt không được uống thuốc ngay sau khi ăn trứng. Bởi trứng có hàm lượng protein cao, nó sẽ làm gia tăng gánh nặng cho dạ dày, ảnh hưởng đến công hiệu của thuốc. Một số bệnh viêm khác như viêm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu, không có ảnh hưởng lớn đến quá trình hấp thụ thuốc (xét ở góc độ Tây y).

Sữa


Trứng và sữa không nên ăn cùng với nhau. Trong sữa có chứa một hàm lượng chất lactose. Lactose là một thể trong hai loai đường galactose và glucose dimmer. Trong trứng lại có chứa rất nhiều chất protein, giúp phân giải các acid amin.

Nếu ăn hai loại thực phẩm này cùng với nhau thì cơ thể chúng ta rất khó hấp thụ chất lactose. Hơn nữa, các chất dinh dưỡng khác lại khó được tiêu hóa. Chính vì thế mà bạn nên hạn chế ăn hai loại thực phẩm này với nhau.

Thịt ngỗng, thịt thỏ


Không nên ăn thịt ngỗng, thịt thỏ ngay sau khi ăn trứng vì thịt thỏ, thịt ngỗng có tính hàn. Trứng cũng thuộc nhóm thực phẩm này và cả hai đều có chứa một số chất có hoạt tính sinh học, khi ăn cùng nhau sẽ xảy ra phản ứng kích thích đường tiêu hóa, gây tiêu chả

Chuyện gì xảy ra khi ruồi, nhặng đậu lên thức ăn?

Theo các chuyên gia và nhà khoa học: nếu ăn thức ăn đã bị ruồi đậu lên, thì đơn giản là chúng ta sẽ ăn… PHÂN.

Chuyện gì xảy rau khi ruồi, nhặng đậu lên thức ăn?

Hầu hết chúng ta thường đuổi ruồi đi khi chúng mới chỉ đặt những chiếc chân nhỏ xíu đầy lông lá lên thức ăn – nhưng thực ra, có thể chúng ta vẫn sẽ ăn cực kỳ nhiều… phân.

Về cơ bản, ruồi là những con vật nhỏ xíu và bẩn thỉu, chúng được bao phủ bởi phân và vi khuẩn – thậm chí còn có thể lây bệnh cho con người.

Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo người dân cần phải tránh ăn các loại thức ăn đã bị ruồi đậu vào và tránh đi dã ngoại ở những nơi đông đúc.

Nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học khoa học Penn State Eberly (Mỹ) đã xét nghiệm các loại vi sinh vật có trên 116 con ruồi nhà và nhặng ở ba châu lục khác nhau.

Kết quả được công bố trên tạp chí Khoa học đã ủng hộ cho một mối nghi ngờ vốn tồn tại từ lâu rằng: ruồi góp phần vào việc làm mầm bệnh lây lan nhanh chóng trong thời gian bùng phát dịch bệnh ở người. Chân của một con ruồi có thể truyền phần lớn vi khuẩn từ nơi này sang nơi khác.

Nghiên cứu này chỉ rõ, ruồi thường lấy vi khuẩn có trong phân và các chất hữu cơ đang bị phân hủy để làm nguồn dinh dưỡng cho con non. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy 15 trường hợp có vi khuẩn Helcobacter pylori gây viêm loét trong ruột người xuất hiện trên nhặng xanh Bra-xin.

Ông Bryant tới từ trường Đại học khoa học Penn State Eberly cho rằng: “điều này sẽ làm bạn phải thực sự nghĩ lại về việc ăn đồ ăn đã bị ruồi đậu lên trong chuyến dã ngoại. Tốt nhất là bạn nên đi dã ngoại trong rừng – cách xa môi trường đô thị - chứ không phải là một công viên nào đó trong thành phố”.

Trồng rau trong thùng xốp: Những điều cần biết

Tự trồng rau trong thùng xốp đã trở nên hết sức phổ biến với nhiều gia đình ở thành phố, như một cách ứng phó với tình hình rau nhiễm bẩn ngoài thị trường đồng thời giúp giảm một phần chi phí trong sinh hoạt hằng ngày. 

Về cơ bản rau được trồng trong thùng xốp là an toàn do rau không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, một số hệ lụy nhỏ ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường có thể đi kèm.

Dưới đầy là những điều cần biết khi trồng rau trong thùng xốp

những điều cần biết khi trồng rau trong thùng xốp

Với những giá thể dùng để trồng rau như mùn cưa hay các chế phẩm sản xuất sẵn là xơ dừa, trấu hun… khi bị rơi vãi trong quá trình trồng và chăm sóc sẽ gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, các vật dụng chứa nước trên sân thượng phục vụ việc tưới rau sẽ là nơi sinh sản lý tưởng cho muỗi và nguy cơ gây ra bệnh sốt xuất huyết.

Vì vậy, đối với những hộ gia đình trồng rau trong thùng xốp, sau khi rau cho thu hoạch cần đảm bảo các chất phế thải được xử lý. Nếu tái sử dụng lại, các giá thể cần được mang phơi lại để khử trùng do vi sinh vật cũng được phát triển trong đó.

Có thể thấy, dù đã giải quyết phần nào mối nguy hại từ các loại rau quả ngậm độc trên thị trường cũng như xoa dịu phần nào nỗi lo lắng cho người dân, việc tự trồng rau cũng không thể là biện pháp lâu dài. Do đó, bên cạnh việc người dân tự tìm cách bảo vệ mình như vậy thì cần có hành động quyết liệt từ phía các cơ quan quản lý trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ sức khỏe lâu dài cho người dân.

Thực tế, trước thực trạng rau phun thuốc trừ sâu, rau quả nhiễm hóa chất kích thích hay hóa chất bảo quản… nhiều người dân thành phố đã tự trồng rau theo mô hình tự cung tự cấp. Tuy nhiên, việc tự trồng rau tại nhà trong thùng xốp cũng có những rủi ro nhất định. Không phải những thùng rau được trồng tại nhà cứ lớn lên là đã đảm bảo an toàn và chất lượng về mặt dinh dưỡng.

Theo các chuyên gia về cây trồng thì có 5 yếu tố ảnh hưởng tới việc sinh trưởng cũng như chất lượng an toàn, chất lượng dinh dưỡng của rau củ khi trồng là đất, phân, nước, ánh nắng và hạt giống. Với hai yếu tố đầu thiên về hữu cơ là đất và phân thì việc lựa chọn và chăm bón ra sao rất quan trọng. Nếu bón nhiều quá, rau củ sẽ cứng khi ăn không còn ngọt. Nếu bón quá ít, cây sẽ mềm và không đủ khả năng chuyển hóa các chất dinh dưỡng để phát triển. Ngoài ra, các chuyên gia còn nhấn mạnh, điều quan trọng là không nên nhân tạo 5 yếu tố đã nêu trên khi trồng rau, củ, quả trong thùng xốp nói riêng hay trồng ngoài vườn, bãi nói chung.

Đối với các gia đình ở thành phố, việc trồng rau thường gặp phải khó khăn là có ít ánh nắng. Trong khi dinh dưỡng của cây được tổng hợp tốt nhất dưới ánh nắng mặt trời. Thông thường, đối với những cây non, người trồng không nên cho nắng nhiều, đối với những cây lớn hơn một chút thì càng nhiều nắng cây càng quang hợp tốt. Bên cạnh đó người trồng cũng cần lưu ý, nắng chiều không tốt bằng nắng sáng. Do đó, buổi chiều nên để cây ở những nơi không có nhiều nắng còn sáng nên cho cây được đón nắng, gió để đạt được giá trị dinh dưỡng tốt nhất.

Một lưu ý đặc biệt là dù trồng cây như thế nào thì rau củ chỉ ngon nhất khi được trồng đúng mùa. Nước sạch, đất sạch, phân bón hữu cơ sẽ cho người trồng nguồn thực phẩm an toàn và dinh dưỡng nhất.

5 Thực phẩm không nên ăn trước khi vận động

Dưới đây là 5 thực phẩm bạn không nên ăn trước khi thể dục, chơi thể thao, hay gym... vì nó sẽ làm giảm hiệu quả trong quá trình tập luyện.

5 Thực phẩm không nên ăn trước khi vận động


Bơ có nhiều chất xơ, protein và chất béo lành mạnh, song chất béo có thể làm giảm năng lượng. Vì vậy nên tránh ăn bơ trước khi tập luyện.

Soda


Soda chứa nhiều đường và có ga có thể làm đảo lộn dạ dày, không nên ăn trước khi tập.

Hạt rang


Các loại hạt là món ăn tuyệt vời, song hầu hết hạt rang đều chứa muối. Thức ăn mặn phá vỡ sự cân bằng chất lỏng cần thiết cho quá trình tập luyện.

Hạt lanh


Hạt lanh bổ sung chất xơ cho cơ thể song lại gây tích tụ khí dẫn đến cảm giác khó chịu.

Sữa chua


Sữa chua là thực phẩm rất tốt cho cơ thể và có nhiều lợi ích sức khỏe. Song các chuyên gia khuyên không nên dùng sữa chua trước khi tập luyện vì nó có thể dẫn đến chuột rút, khó chịu và tiêu chảy.

Nguy cơ tiềm ẩn từ cua ghẹ

Tuy là những thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng nhưng cua, ghẹ cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây hại cho sức khỏe của người sử dụng.

Nguy cơ tiềm ẩn từ cua ghẹ

Gây dị ứng


Cua, ghẹ là loại hải sản rất giàu dinh dưỡng, giàu omega-3, omega-6, vitamin và khoáng chất thiết yếu cho cơ thể … tốt cho hệ tim mạch, hệ miễn dịch, xương khớp, hệ tiêu hóa.

Nếu ai dị ứng với hải sản chỉ cần ăn một lượng nhỏ cũng có thể dẫn đến ngứa ngáy toàn thân, nổi mề đay, đau đầu, chóng mặt, khó thở, tụt huyết áp, hôn mê. Thậm chí, có nhiều người còn tử vong vì ăn hải sản nếu không được cấp cứu kịp thời.

Nếu ai dị ứng với hải sản chỉ cần ăn một lượng nhỏ cũng có thể dẫn đến ngứa ngáy toàn thân, nổi mề đay, đau đầu, chóng mặt, khó thở, tụt huyết áp, hôn mê.

Nguy cơ gây nhiễm độc, ngộ độc


Tuy nhiên, đây cũng là loại thực phẩm dễ chứa 2 loại độc tố nguy hiểm là chất độc dioxin và PCBs nếu loại hải sản này nằm trong vùng biển ô nhiễm.

Theo đó, 2 loại chất độc trên có thể gây phát ban, làm suy giảm hệ miễn dịch, rối loạn thần kinh, tổn thương gan, làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư, thậm chí làm tăng nguy cơ sinh con khuyết tật nếu phụ nữ mang thai ăn phải.

Nếu cua ghẹ không còn tươi sống hoặc không được chế biến đúng cách sẽ khiến bạn có nguy cơ phải đối mặt với các loại vi khuẩn gây ngộ độc thức ăn như: khuẩn cầu trùm, khuẩn dấu phẩy.

Lây nhiễm kí sinh trùng nguy hiểm


Cua, ghẹ, ốc thường là vật chủ của nhiều loại kí sinh trùng nguy hiểm như: sán lá gan, sán phổi, sán dây. Vì thế, không nên ăn chúng khi chưa được nấu chín để bảo vệ sức khỏe.

Đồng thời, những người đang mắc các bệnh như: tiểu đường, bệnh thận hay huyết áp cao không nên ăn quá nhiều cua, ghẹ. Vì hàm lượng natri cao trong chúng sẽ khiến tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn.

8 Loại rau củ nhiều canxi cần cho xương

Dinh dưỡng quyết định đến việc tăng chiều cao và cân nặng của bạn. Do đó, nếu muốn cải thiện chiều cao, bạn phải biết lựa chọn những nguồn thực phẩm có lợi cho quá trình phát triển của mình. Canxi chính là chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của xương.

8 loại rau củ có chứa nhiều canxi dưới đây sẽ giúp bạn tăng chiều cao một cách tự nhiên và lành mạnh.

8 Loại rau củ nhiều canxi cần thiết cho xương

1. Súp lơ


Súp lơ rất giàu sắt, kẽm, canxi, vitamin E,…  rất cần thiết cho sự phát triển chiều cao. Súp lơ có thể ăn sống, luộc, hấp, xào, tuy nhiên việc hấp, xào súp lơ để ăn được khuyên dùng nhiều hơn vì cách thức chế biến này không làm giảm sự hiện diện của các hợp chất chống ung thư chứa trong loại rau này.

2. Rau dền


Rau dền có chứa hàm lượng canxi vượt trội hơn cả sữa bò, ngoài ra loại rau này còn chứa một lượng lớn nguyên tố khoáng chất và vitamin K giúp hấp thụ canxi và chiều cao phát triển.

3. Cải chíp


Cải chíp rất giàu các thành phần giúp bổ sung canxi, bên cạnh đó còn cung cấp thêm vitamin A, C, folic axit, chất sắt, beta carotin, và kali cho cơ thể. Chất kali giúp cho cơ bắp và các dây thần kinh luôn khỏe mạnh. Bên cạnh đó beta carotin còn giúp làm giảm nguy cơ ung thu phổi và ruột.
4. Rau chân vịt (bina)

Rau chân vịt chứa một lượng vitamin K khá lớn hỗ trợ hấp thu và chuyển hóa canxi. Ngoài ra trong rau chân vịt còn chưa nhiều vitamin như: A, flavonoid - một hợp chất có tác dụng chống độc tố, chống oxy hóa cao.

5. Giá đỗ


Hàm lượng vitamin D và chất xơ trong loại rau mầm này khá lớn vì vậy cần bổ sung vào thực đơn của bạn hàng ngày.

6. Cà chua


Cà chua có chứa nhiều vitamin và khoáng chất như: vitamin A, C và K. Bên cạnh đó cà chua cũng chứa kaki, mangan, crôm, vitamin B1, B6, folate, đồng, sắt và nhiều dưỡng chất thiết yếu khác.

7. Cà rốt


Cà rốt có chứa nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất khác như: vitamin B, C, K, chất xơ, kali, mangan, phốt pho, magiê, folate… không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn giúp tăng chiều cao tối ưu.

8. Khoai lang


Khoai lang có chứa nhiều canxi và nhiều dưỡng chất khác rất tốt cho cơ thể. Bạn có thể làm cho món này tăng cường canxi hơn bằng cách chế biến cùng pho mát hay sữa chua. Khoai lang nướng ăn kèm sữa chua ít béo hay pho mát nghiền hoặc thái khoai lang hình que và rán với dầu ô liu, nướng trong lò vi sóng và rắc pho mát nghiền, hay luộc khoai rồi nghiền nhuyễn rồi trộn cùng bơ và pho mát,… đều dễ ăn.

Ngoài ra để có một chiều cao tối ưu, bạn nên hạn chế ăn chất béo xấu, đồ ăn giàu đường và tinh bột. Bên cạnh đó, bạn không nên hút thuốc lá, uống rượu bia, cà phê, sử dụng ma túy. Đây là những nhân tố khiến bạn lùn đi, xương chậm tăng trưởng, cơ thể còi cọc suy dinh dưỡng. Một giấc ngủ sâu và kéo dài 8 – 10 tiếng sẽ tốt hơn cho sự phát triển chiều cao.

Không nên loại bỏ chất béo ra khỏi khẩu phần ăn

Hiện nay, ám ảnh về các bệnh béo phì và đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng, khiến nhiều người đã lo lắng, kháo nhau kiêng ăn giảm uống, đặc biệt loại bỏ hẳn chất béo ra khỏi khẩu phần ăn.

Đây là một quan điểm hết sức sai lầm vì con người, đặc biệt trẻ em đang phát triển, không thể tồn tại với một khẩu phần không có chất béo.

Đến 80% những rối loạn chất cholesterol trong cơ thể là do nội sinh, từ hệ thống chuyển hóa trong cơ thể, phần cải tạo được qua chế độ ăn uống chỉ khoảng 20% còn lại.

Không nên loại bỏ chất béo ra khỏi khẩu phần ăn

Chất béo là một phần của ô vuông thức ăn


Thực phẩm con người sử dụng rất đa dạng và nhiều chủng loại. Các nhà dinh dưỡng học đã hệ thống lại và xếp thực phẩm thành bốn nhóm trong một hình biểu trưng gọi là “ô vuông” thức ăn gồm 4 nhóm sau: (1) chất đường nói chung (carbohydrate), (2) chất đạm, thịt, (3) chất béo và (4) muối khoáng, vitamin với trung tâm ô vuông là sữa, thức ăn tối ưu và thích hợp nhất.

Trong thiên nhiên, không có một thực phẩm nào là hoàn hảo cả; một khẩu phần thích hợp bắt buộc phải có đủ cả 4 thành phần trong ô vuông thức ăn. Một bữa ăn đúng, hợp lý có đầy đủ các thành phần, như một cái áo hoàn chỉnh cần có các thành phần cơ bản: vạt trước, vạt sau, cổ áo, tay áo, túi áo...“thừa không được mà thiếu cũng không xong”.

Trẻ em kể cả trẻ béo phì cũng cần phải ăn chất béo


Trẻ em là một cơ thể đang phát triển và trưởng thành, nhu cầu chất béo không thể thiếu. Với trẻ béo phì thường do ăn quá nhiều cơm, bánh mì hoặc bánh kẹo, uống nhiều nước ngọt… dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng, chứ không đơn thuần là do ăn chất béo. Vì thế, tuyệt đối không được loại bỏ hoàn toàn chất béo ra khỏi chế độ dinh dưỡng của trẻ em kể cả trẻ béo phì. Nếu có con bị béo phì, phụ huynh cần xây dựng lại khẩu phần ăn hợp lý, có thể cho trẻ ăn ít chất béo hơn nhu cầu một tí, tránh ăn chất béo động vật nhưng không được loại bỏ chất béo trong thức ăn.

Thiếu cholesterol “chết” đấy


Về bản chất, cholesterol là một chất béo rất cần thiết cho cơ thể con người với nhiều chức năng, vai trò quan trọng là thành phần cấu tạo ở màng của cả tỉ tế bào trong cơ thể; thành phần cấu tạo các sợi trục, dây và rễ của hệ thần kinh trung ương lẫn ngoại biên; cholesterol còn là chất tiền thân (precursor) để sinh tổng hợp nên các hoóc môn steroid của tuyến thượng thận và tuyến sinh dục, đây là hai tuyến nội tiết vô cùng quan trọng đảm bảo chức năng sống còn và duy trì nòi giống.

Do đó thiếu cholesterol chắc chắn cơ thể chúng ta không thể tồn tại và vận hành được, thiếu cholesterol cũng sẽ gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm không thua gì tình trạng thừa cholesterol.

Khi lưu hành trong máu, cholesterol thường kết hợp với chất protein “vận chuyển” để tạo thành hai phức hợp lipoprotein là LDL (mật độ thấp, gây hại) và HDL (mật độ cao, có lợi); cần nhấn mạnh thành phần cholesterol gây hại thật sự cho cơ thể chính là LDL này. Tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu - thừa LDL và thiếu HDL - sẽ gây nhiều biến chứng như: xơ vữa động mạch với những hệ lụy như tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, thiếu máu mạch vành, nhồi máu cơ tim...; bệnh béo phì, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ...

Có hai nguồn cung cấp cholesterol: một là thức ăn đem vào chỉ chiếm gần 20% nhu cầu và hai là sự sinh tổng hợp xảy ra ngay trong cơ thể bổ sung đến 80% còn lại. Gan là nơi tổng hợp cholesterol từ một tiền chất là acetyl-CoA lấy từ chuyển hóa các chất đường, béo và đạm. Như vậy đã rõ ràng là cholesterol “nội sinh” (tổng hợp trong cơ thể) mới là nguồn chính, người rối loạn chuyển hóa lipid máu thường là do tăng cholesterol “nội sinh” hơn là do ăn nhiều cholesterol “ngoại lai” vào.

8 Chất dinh dưỡng thiết yếu với sức khỏe

Magiê, kẽm, sắt, protein, canxi, vitamin và Iốt,… đều là những chất dinh dưỡng thiết yếu để có một sức khỏe tốt. Hãy cùng khám phá ra lý do tại sao chúng lại quan trọng.

8 Chất dinh dưỡng thiết yếu với sức khỏe

Protein: Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ thể một người đàn ông cần phải tiêu thụ ít nhất 55 gram chất đạm mỗi ngày và phụ nữ phải tiêu thụ ít nhất 45 gram. Một số thực phẩm giàu protein như đậu Hà Lan, đậu lăng, sữa, sữa chua và trứng.

Sắt: Khi lượng sắt không đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu của cơ thể, thì nó có thể dẫn đến bệnh thiếu máu, năng lượng thấp, đau đầu, sạm da, móng tay giòn và rụng tóc,…Để nâng cao lượng máu trong cơ thể, bạn cần phải tiêu thụ đủ chất sắt hàng ngày bằng cách ăn rau lá xanh thường xuyên.

Kẽm: Cơ thể cần kẽm để duy trì khả năng miễn dịch khỏe mạnh, tiết ra các enzym để tạo ra DNA và cũng như trong các hoạt động dẫn truyền thần kinh. Khi bạn thiếu chất này, nó có thể dẫn đến tiêu chảy, rụng tóc và mất cảm giác ngon miệng. Ăn cải bắp, hạnh nhân, đậu Hà Lan và trái cây sấy khô có thể cung cấp đủ lượng kẽm.

Magiê: Magiê là một khoáng chất đóng rất nhiều vai trò trong cơ thể; nó rất cần thiết để duy trì xương khỏe mạnh, giảm thiểu nguy cơ ung thư và cũng như ảnh hưởng đến sự hấp thụ của canxi. Bạn có thể tìm thấy khoáng chất này từ các loại ngũ cốc, các loại hạt và sữa.

Canxi: Tất cả chúng ta đều biết canxi là chất cần thiết giúp cho xương chắc khỏe. Chính vì vậy canxi cũng vô cùng quan trọng đối với cơ thể. Canxi có thể được tìm thấy từ sữa, sữa chua, bắp cải và cải xoăn.

I-ốt: Cơ thể chúng ta cũng đòi hỏi I-ốt để tổng hợp hormone. Thiếu iốt có thể sẽ rất nguy hiểm đối với sức khỏe, đặc biệt là đối với trẻ em như gây suy yếu chức năng tuyến giáp,.. Trứng và hải sản là những thực phẩm có thể cung cấp đủ I-ốt cho bạn.

Vitamin B12: Hệ thống thần kinh của chúng ta rất cần loại Vitamin này. Ngoài ra, nó cũng rất hữu ích trong việc sản xuất các tế bào máu đỏ. Khi cơ thể thiếu Vitamin B12 có thể dẫn đến sạm da, mệt mỏi và khó thở. Trứng và thịt là những nguồn giàu Vitamin B12 mà bạn nên tham khảo.

Axit béo Omega 3: Axit béo omega 3 giúp tăng cường sức khỏe và tuổi thọ. Loại khoáng chất này có thể được tìm thấy từ cá, dầu ô liu và bơ,... Khi cơ thể bạn bị thiếu Omega 3, bạn có thể bị trầm cảm và tâm trạng thất thường.

5 Lầm tưởng khi ăn thịt lợn tẩm bổ

"Ăn gì bổ nấy" là quan niệm của không ít người khi lựa chọn thực phẩm. Tuy nhiên, đây là quan niệm hoàn toàn không nên áp dụng lên thịt lợn và còn có thể gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng cho người ăn.

5 Lầm tưởng khi ăn thịt lợn tẩm bổ

Óc lợn


Óc lợn là món ăn được nhiều người ưa chuộng, nhiều mẹ còn nghĩ rằng ăn óc lợn sẽ giúp con mình thông minh, phát triển trí não hơn. Song đây lại là quan niệm không hề đúng. Theo các chuyên gia, óc lợn tuy ngon nhưng ẩn chứa nhiều nguy cơ nhất.

Trong 100 g óc lợn có tới 2500 mg cholesterol, con số này gấp 8 lần nhu cầu cholesterol mà cơ thể cần mỗi ngày. Do đó, ăn nhiều thực phẩm này dễ gây béo phì, đặc biệt đối với trẻ nhỏ, người bị rối loạn mỡ máu, bệnh liên quan đến tim mạch,…

Ruột già, ruột non


Tương tự như các nội tạng khác của lợn, ruột già ruột non chứa rất nhiều protein và cholesterol nhưng những chất này đều là "cấm kỵ" với người bị bệnh tim mạch, tiểu đường, cholesterol máu, rối loạn chuyển hóa.

Ăn nhiều nội tạng cũng chính là nguyên nhân gây các bệnh nguy hiểm khác như gout, viêm tụy cấp, gan nhiễm mỡ, béo phì.Ruột già, ruột non cũng là bộ phận bẩn nhất của lợn khi vừa chứa vi khuẩn, virus bệnh, đồng thời ẩn chứa rất nhiều giun sán. Nếu không làm sạch và chế biến kỹ sẽ rất nguy hiểm cho người ăn.

Tiết


Nhiều người vẫn lầm tưởng ăn tiết canh có tác dụng bổ khí huyết, nhưng quan niệm này thực sự sai lầm vì loại thực phẩm này không hề mát và còn tác động tiêu cực đến sức khỏe của người sử dụng.

Máu của gia súc lẫn gia cầm khi nấu chín cũng có giá trị dinh dưỡng và giúp cung cấp hàm lượng sắt cho cơ thể nhưng tuyệt đối không ăn tiết sống bởi kể cả những con vật khỏe mạnh đều có thể chứa nhiều vi khuẩn và virus gây bệnh. 

Ngoài ra, trong quá trình cắt tiết, những vi khuẩn ở đường hô hấp, lông và da dễ dàng xâm nhập vào máu. Các loại sán, ký sinh trùng một khi đã vào não nhưng không phát hiện kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng thần kinh như ngớ ngẩn, mất trí nhớ, liệt, phải cắt bỏ chi.

Chân giò


Theo quan niệm dân gian, chân giò có tác dụng kích thích tuyến sữa, nhưng sự tác động của món ăn này đối với cơ chế tiết sữa của phụ nữ sau sinh vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng.

Trong chân giò chứa nhiều protein, chất béo và chất keo protit, canxi, sắt, vitamin A, B, C. Song, lượng chất béo ở chân giò không tốt khi cơ thể ăn quá nhiều. Đặc biệt, với những phụ nữ sau khi sinh nở, hệ tiêu hóa vẫn còn hoạt động rất yếu, gây khó khăn trong việc hấp thụ chất dinh dưỡng. Ăn chân giò nhiều chất béo càng khiến quá trình tiêu hóa khó khăn hơn và có thể dẫn đến tăng cân nhanh.

Gan lợn


Gan lợn có các thành phần dinh dưỡng dồi dào như protein, sắt, vitamin B, D, axid folic, nicotilic. Gan lợn cũng có hàm lượng vitamin A cao hơn hẳn các thực phẩm mà chúng ta thường cho rằng rất giàu vitamin A như trứng, cá, thịt, sữa,...

Tuy nhiên, gan lợn là bộ phận chuyển hóa và đào thải các độc tố trong cơ thể nên cũng là nơi tập trung các chất cặn bã gây hại sức khỏe, là cơ quan thải độc nhưng nếu gan bị bệnh không thải chất độc được, sẽ tồn dư nhiều mầm bệnh, các loại ký sinh trùng, virus (nếu gan bị viêm) và độc tố gây bệnh. Trong gan chứa lượng đậm và cholesterol cao không tốt cho những người bị tăng cholesterol máu, xơ vữa động mạch, huyết áp cao, tiểu đường.

Sự thật về Nước ngọt ăn kiêng

Nước ngọt ăn kiêng không những không giúp bạn giảm cân, mà còn khiến bạn có xu hướng ăn nhiều

Có rất nhiều người chọn uống nước ngọt dành cho người ăn kiêng (diet soda) với suy nghĩ nó sẽ không gây béo phì và không ảnh hưởng đến kế hoạch giảm cân. Trên thực tế, sự thật lại không phải như vậy.

Sự thật về Nước ngọt ăn kiêng

Một giáo sư tại Đại học Illinois đã phân tích thói quen ăn uống của hơn 22.000 thanh niên Mỹ trong 48 giờ. Kết quả khá bất ngờ khi nhóm người uống diet soda có xu hướng tiêu thụ nhiều thực phẩm chứa đường, muối, chất béo và cholesterol như một cách để bù đắp cho lượng calo thấp trong soda ăn kiêng.

Ruopeng An - phó giáo sư tiến sĩ thuộc ban sức khỏe cộng đồng của Đại học Illinois cho biết soda, thậm chí soda ăn kiêng và các đồ ăn vặt chế biến sẵn đều là thực phẩm nghèo dinh dưỡng, không thuộc bất cứ nhóm thực phẩm chính nào, kể cả bánh quy và khoai tây chiên. Hơn 90% đối tượng được nghiên cứu hấp thu trung bình 482 calo từ đồ ăn vặt – những thực phẩm không được coi là thực phẩm.

Tổng lượng calo hấp thu trong ngày tăng theo từng loại đồ uống. Như vậy trà là loại đồ uống giúp hạn chế cơn thèm ăn các thực phẩm nhiều calo khác.

Những người tham gia vào cuộc nghiên cứu cũng được uống ít nhất một loại đồ uống giải khát như cà phê, nước ngọt không đường, trà, rượu và đồ uống ăn kiêng hàng ngày.

Nhóm người chọn cho đồ uống ăn kiêng ít calo có khả năng tiêu thụ các thực phẩm chế biến sẵn, nhiều chất béo khác. Tiến sĩ An cho biết điều này có thể do tâm lý. Những người đang giảm cân đặt nhiều niềm tin vào soda ăn kiêng. Họ nghĩ rằng soda ăn kiêng an toàn và giúp họ giảm cân, vì vậy họ tự thưởng cho mình một túi bánh muffin hoặc túi khoai tây chiên. Như vậy soda ăn kiêng không thể giúp bạn giảm cân, thậm chí nó còn khiến bạn thèm ăn các đồ ăn nhiều calo khác.

Các chuyên gia gợi ý một số loại đồ uống có thể uống khi đang giảm cân. Đặc điểm chung của các loại đồ uống này là đều 0 calo và sẽ không khiến bạn thèm ăn nhiều hơn.

- Trà nhài hoặc trà xanh, vắt thêm chút nước chanh, thêm đá và không cho đường.

- Trà hoa quả hoặc trà thảo mộc, không đường.

- Pha nước lọc với vài lát hoa quả như cam, quýt, chanh, dưa hấu, dâu tây… thêm vài lá bạc hà.

Ngoài ra, hãy uống một ly nước trước bữa ăn. Nước lọc sẽ giúp hỗ trợ quá trình tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón, tránh tình trạng mất nước, giảm cảm giác thèm ăn và ăn nhiều. Nước cũng cải thiện các vấn đề về da, ngăn ngừa lão hóa và chảy sệ.

Tại sao ăn nhanh lại lắm bệnh ?

Các nhà khoa học đến từ Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu và nhận thấy rằng: thói quen ăn nhanh có liên quan trực tiếp đến tiền đái tháo đường hoặc tiểu đường đề kháng insulin. 

Trong vòng 1 tháng các nhà nghiên cứu đã quan sát 200 tình nguyện viên. Kết quả cho thấy những người ăn nhanh có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường gấp đôi. Và sau 10 năm, bệnh tiểu đường phát triển ở 1/2 số người có thói quen ăn uống vội vàng đó.

Tại sao ăn nhanh lại lắm bệnh ?

Chuyên gia dinh dưỡng Julia Chekhonina – Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng, công nghệ sinh học và an toàn thực phẩm Liên Bang Nga giải thích về mối quan hệ giữa thói quen ăn nhanh và tình trạng xấu đi của sức khỏe, cũng như làm thế nào để loại bỏ được nó:

20 phút để no


Trước hết, thói quen ăn nhanh có thể dẫn đến thừa cân và béo phì. Còn tiểu đường tuýp 2 là biến chứng thường gặp nhất của thừa cân và béo phì.

Sự hình thành cảm giác no diễn ra ít nhất là 20 phút kể từ khi bắt đầu ăn. Do vậy nếu chúng ăn trong thời gian 20 phút, chúng ta sẽ cảm thấy ăn đủ và dừng lại kịp thời. Còn khi bạn ăn quá nhanh, dạ dày đã đầy, nhưng bạn chưa cảm giác no. Lượng thức ăn thừa tiếp tục được cung cấp cho dạ dày cho đến khi bạn cảm thấy no và ăn chậm hơn. Lúc này đã là quá muộn. Lượng thức ăn thừa - đó là lượng calo dư thừa, được lưu trữ dưới dạng chất béo dự trữ.

Vì vậy, thường xuyên ăn quá nhiều sẽ dẫn tới thừa cân, bệnh tiểu dường. Liên quan đến chứng béo phì không chỉ là bệnh tiểu đường. Nó có thể khiến cao huyết áp, cholesterol cao.

Làm thế nào để học cách ăn chậm và không ăn quá nhiều?


- Cố gắng không bỏ bữa sáng. Nếu không bạn có thể vớ ngay lấy cái gì ăn khi quá đói, hoặc ăn quá vội vàng và quá nhiều trong bữa trưa, bữa tối.

Nếu bạn không kịp để ăn bữa sáng đầy đủ, hãy ăn một chút cũng được (2-3 thìa cháo, phô mai, trứng ốp). Điều đó tốt hơn là bạn nhịn bữa sáng và đi làm với cái bụng trống rỗng.

- Ăn trưa tốt hơn cả là bắt đầu với các món lỏng, nóng. Nó sẽ giúp tiêu tốn của bạn vài phút ăn. Thêm vào đó, nó có lượng calo thấp, đồng thời lại làm đầy dạ dày.

- Hai giờ trước khi đi ngủ, bạn có thể uống một loại sữa chua hoặc ăn một món súp nóng.

- Đừng xem tivi hoặc sử dụng internet khi ăn, vì như vậy bạn không kiểm soát được lượng thực phẩm đưa vào cơ thể.

- Ăn bằng thìa, dĩa nhỏ. Tốt hơn cả là cho thức ăn vào bát, đĩa nhỏ để hạn chế ăn quá nhiều.

- Đừng quên ăn nhẹ giữa bữa sáng, trưa và tối. Điều này sẽ giúp bạn tránh được cảm giác đói. Nghỉ giữa bữa ăn không được quá 3-4 giờ. Các sản phẩm thích hợp nhất cho một bữa ăn nhẹ là sữa chua, trái cây.

- Tránh thức ăn nhanh, đồ ăn nhẹ, khoai tây chiên, kẹo, hạt, bánh mì và các loại "khô chất béo" khác.

- Dạy cho trẻ con thói quen ăn chậm.

Ăn tráng miệng thế nào mới tốt ?

Đồ tráng miệng có thể là một phần của chế độ ăn lành mạnh, điều này hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Thức ăn của chúng ta gồm ba nhóm chất dinh dưỡng là chất bột đường (carbohydrat), chất đạm (protein) và chất béo, chúng sẽ sản sinh ra năng lượng khi được tiêu hóa. Năng lượng được tạo ra từ việc tiêu hóa thức ăn và tiêu hao qua hoạt động thể chất, được gọi là "calo".

Theo Medical News Today, 1g carbohydrat chứa 4 calo. Điều này cũng đúng với protein, trong khi 1g chất béo chứa 9 calo.

Bây giờ khi bạn đã biết giá trị năng lượng của các thành phần thực phẩm thì việc duy trì lối sống lành mạnh có thể trở thành một phương trình đơn giản.

Trong bài này, hãy giả định lượng calo trung bình của một người là 2.000kcal/ngày và cân nặng của người đó là khoảng 55kg.

Dưới đây là hướng dẫn sơ qua về cách thưởng thức những món đồ ăn và thức uống yêu thích mà vẫn duy trì được lối sống cân bằng thông qua hoạt động thể chất.

Ăn tráng miệng thế nào mới tốt

1. Bữa sáng


2 lát bánh mì trắng (140 kcal) với mứt dừa đặc (71 kcal) + 1 tách cà phê với sữa tách bơ và đường (87 kcal) = 298 kcal

2. Bữa trưa


1 đĩa bún xào kiểu Thái (694 kcal) + 1 lát dưa hấu (49 kcal) + 1 cốc nước cam ép hoặc nước xoài ép (111 kcal) = 854 kcal

3. Bữa lỡ


4 bánh qui xốp (80 kcal) + 1 tách trà đường (113 kcal) = 193 kcal

4. Bữa tối


1 đĩa mì xào (745kcal) + 1 quả táo tây đỏ (96 kcal) + 1 cốc cô ca (133 kcal) = 974 kcal

5. Tráng miệng


1 lon bia (153 kcal) + 1 cốc thạch kem (171 kcal) = 324 kcal

Tiêu hao:
Tập thể dục nhịp điệu nhẹ nhàng trong 30 phút = 165 kcal
Tập thể dục nhịp điệu nhẹ nhàng trong 30 phút = 165 kcal

Chạy 8 km/h trong 30 phút = 240 kcal

Bơi sải trong 30 phút = 300 kcal

Căn cứ vào các bữa ăn được đề xuất ở trên, tổng lượng calo dư đứng ở mức 643 kcal. Giả sử bạn thực hiện cả 3 bài tập, tổng lượng calo bị đốt cháy sẽ là 705 kcal, nhiều hơn một chút so với lượng calo dư mà bạn nhận được.

Mỗi người đều có một chỉ số khối cơ thể, tuổi tác và lối sống khác nhau. Tuy số calo hấp thu có thể khác nhau giữa mỗi người, song khái niệm toán học được áp dụng thì như nhau.

Vì vậy, lần sau khi thèm một món ăn hay đồ uống nào đó, bạn có thể yên tâm khi biết rằng hoàn toàn có thể thưởng thức nó - miễn là giữ cho mọi thứ cân bằng!

Điều quan trọng nhất cần nhớ là hãy siêng năng vận động và luôn ăn uống có chừng mực.